Ban Biên Tập: H K Châu, L N Hui, Ng L Hương, C Ng Cường, Ng C Lâm, Ng Đ Thắng, NTHương

Wednesday, October 14, 2026

MỘT THOÁNG THU VỀ

 No photo description available.

 

MỘT THOÁNG THU VỀ
Ngô đồng nhất diệp lạc,
Thiên hạ cộng tri thu
“Hôm nay có phải là thu?
Mây năm xưa đã phiêu du trở về,
Cảm vì em bước chân đi,
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn,
Ai về xa mãi cô thôn?
Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà.
( Đinh Hùng)
Đất trời bước vào thu phân, thời khắc của ngày và đêm dài bằng nhau.
Vậy sao! … “Ô hay! mùa thu đến bao giờ ?” Chỉ một thoáng thu về, cho “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng thu“ chưa kịp “cảm thu” thì đã “tiễn thu” …” Thu cô liêu, thu quyến rũ…”
Thu chợt đến chợt đi nơi đất này để có người thẫn thờ “nhìn những mùa thu đi”. Mùa Thu đã mênh mang mây ngàn. Để lại nỗi “buồn tàn thu” vẫn còn đâu đó trên cánh lá vàng…
“Cố quốc sơn hà khan lạc nhật,
Tha hương thân thế thác phù vân. “
Nguyễn Du xưa chỉ tha hương vài ba năm nơi miền Giang thành (Quảng Bình)
“Giang thành nhất ngoạ duyệt tam chu,
Bắc vọng gia hương thiên tận đầu.
Lệ Thuỷ, Cẩm Sơn giai thị khách,
Bạch vân hồng thụ bất thăng thu.”
(Tân thu ngẫu hứng, Nguyễn Du)
Giang thành thoáng chốc đã ba năm
Trông vời quê Bắc quá xa xăm
Lệ Thuỷ Cẩm Sơn là đất khách
Mây trắng cây hồng thu biệt tăm. (mnc dịch)
Tha phương như cụ Tiên Điền chỉ lòng vòng trong nước Việt thời ấy, từ Lệ Thuỷ, Cẩm Sơn vùng Quảng Bình, cách trở mỗi ngọn Đèo Ngang là ra quê Bắc mới ba năm ly hương mà nỗi nhớ quê trong lòng Nguyễn Du đã thiết tha đến thế, huống chi kẻ hậu sinh này tha phương xứ người, xa cách quê hương nửa vòng trái đất đã hơn 30 năm chưa lần trở lại thời còn thê thiết đến biết chừng nào mà kể
Thu về nơi đất khách
Một thoáng cũng là thu
Đọc thơ xưa hoài cảm
Chốn quê hương xa mù
Thôi đầu thu hay cuối thu cũng xin đốt lò hương cũ
đọc lại bài thơ cổ của cụ Nguyễn Du, bài
Thu nhật ký hứng
Tây phong tài đáo bất quy nhân,
Đốn giác hàn uy dĩ thập phần.
Cố quốc sơn hà khan lạc nhật,
Tha hương thân thế thác phù vân.
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị,
Hà xứ thu thanh tạc dạ văn.
Tự sẩn bạch đầu khiếm thu nhập,
Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân.
Nguyễn Du
Nguyên tác
秋日寄興
西風纔到不歸人,
頓覺寒威已十分。
故國山河看落日,
他鄉身世托浮雲。
忽驚老境今朝是,
何處秋聲昨夜聞。
自哂白頭欠收入,
滿庭黃葉落紛紛
Dịch nghĩa:
Ngày thu cảm hứng
Gió tây mới đến người chưa về
Mà đã thấy khí trời lạnh lắm
Non sông nước cũ trông vẻ chiều tà
Thân thế đất người gửi đám mây nổi
Hôm nay chợt sợ cảnh già
Đêm qua nghe tiếng thu ở đâu nổi lên
Cười mình đầu bạc vụng tính
Đầy sân lá vàng rụng tơi bời!
Nhà thơ Quách Tấn, xứ Trầm Hương đã dịch bài này như sau:
Ngày thu cảm hứng
Gió tây mới thoảng khách xa đường,
Khí lạnh đìu hiu đã thấm xương.
Chiều nhuộm núi sông tình cố quốc,
Mây vần thân thế bóng tha hương.
Vừa nghiêng tai lắng thu lên tiếng,
Bỗng giật mình trông tóc trắng gương.
Ngán nỗi già đời không biết liệu,
Đầy sân nượp nượp lá bay sương
Quách Tấn dịch
Cần gì đọc thơ đời Đường nhỉ !?
Chỉ một bài thất ngôn này của Nguyễn Du cũng đủ thấy nỗi niềm tha hương trong hơi thu lành lạnh trong buổi sớm mai.
Ngọn gió tây cũng đủ gợi nỗi niềm riêng để người tha phương bâng khuâng hoài cảm nhớ về đất cũ.
Ôi!
“Cố quốc sơn hà khan lạc nhật,
Tha hương thân thế thác phù vân.”
Đọc xong 2 câu tuyệt tác này lại chợt nhớ lại hai câu ca dao :
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau.
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”
Rồi đọc lại bài dịch của cụ Quách cũng chưa ưng lắm, thôi cũng múa rìu qua mắt thợ một phen như sau.
Mời quý hảo hữu bốn phương đọc qua:
Viết lúc Thu về
Gió Tây thoảng lại người-chưa-về
Bỗng chợt nghe lòng lạnh tái tê
Thân gửi mây trời nơi đất khách
Ngày tàn bỗng tưởng nhớ về quê
Soi gương ban sớm e đầu bạc
Vọng tiếng thu về nghe thiết thê
Tự trách già đầu không biết liệu
Đầy sân lá rụng đến ê chề
maingocuong
24/9
See less
 

Sunday, September 20, 2026

nhớ câu ca dao

 

Sớm mai ra thăm vườn khi nắng chưa lên sương còn đọng trên lá cỏ. Hoa thiên lý, bông ớt, bông hẹ nở bung, tươi tốt… toàn là những loài hoa …ăn được. Chụp dàn bông hẹ trắng muốt in trên nền đen lại nhớ câu ca dao
Mưa lâm râm ướt đầm bông hẹ
Anh thương một người có mẹ có cha
Cây hẹ cũng rối như canh hẹ, tên tiếng Anh của nó là Chinese Chives vì xuất xứ từ vùng Shānxī (Sơn Tây) miền bắc Trung Quốc.
Tiếng Hán gọi nó là rau cửu. Ta gọi là hẹ
Đỗ Phủ thời Thịnh Đường có nhắc đến rau hẹ trong bài ngũ ngôn cổ thi Tặng Vệ bát xử sĩ (Tặng chàng xử sĩ họ Vệ) trích đoạn cuối :
Dạ vũ tiễn xuân cửu,
Tân xuy gián hoàng lương.
Chủ xưng hội diện nan,
Nhất cử luỹ thập trường.
Thập trường diệc bất tuý,
Cảm tử cố ý trường.
Minh nhật cách sơn nhạc,
Thế sự lưỡng mang mang
Dịch
Hái rau hẹ xuân trong mưa đêm
Cơm lẫn kê vàng vừa chín tới
Thật khó mới có dịp tương hội
Phải uống mười chén rượu một hơi
Mười chén rượu liền cũng chưa say
Chỉ cảm say vì tình bằng hữu
Ngày mai cách xa sau buổi rượu
Việc đời man mác biết về đâu (mnc)
Ôi!
“Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu” (Nguyễn Gia Thiều)
Việc đời bao giờ cũng rối như canh hẹ, nhưng để vài phút tạm ngắm bông hẹ trắng sáng nay cho nhẹ lòng … Bạn ơi! 
MNC 
 

Saturday, September 19, 2026

TRỐNG ĐỒNG. DI SẢN BIỂU TƯỢNG VĂN MINH NƯỚC VIỆT CỔ

 

TRỐNG ĐỒNG. DI SẢN BIỂU TƯỢNG VĂN MINH NƯỚC VIỆT CỔ
Mới đây, chiếc trống đồng Đông Sơn, một bảo vật quốc gia, “được các nhà khoa học Pháp giám định có niên đại từ khoảng thế kỷ thứ V (trước Công Nguyên) với chiều cao 40,7cm, đường kính 54,5cm, nặng 17,2kg, đã bị Pháp tịch thu năm 2014, sau 12 năm đã được “châu về Hiệp phố”.
Hiện tại, Việt Nam và Pháp chưa công bố danh tính hay quốc tịch cụ thể của cá nhân hay tổ chức nào đứng sau vụ vận chuyển chiếc trống đồng Đông Sơn này nhập lậu từ Senegal vào Pháp cách nay 12 năm.
Trống đồng Ngọc Lũ
Trống đồng là một cổ vật là di sản là biểu tượng của nền văn minh Việt cổ đại.
Đây là chiếc trống có hoa văn đẹp nhất so với tất cả những chiếc trống thuộc nền văn hóa Đông Sơn.
Văn hóa Đông Sơn và Trống đồng Ngọc Lũ
Tên trống được gọi theo tên làng Ngọc Lũ, nơi người Pháp phát hiện ra chiếc trống này. Làng Ngọc Lũ còn có tên Nôm là làng Chủ, trước năm 1945 gọi là "xã Ngọc Lũ" (xã chỉ có một làng), nằm cạnh bờ sông Châu Giang, thuộc tổng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Tên tuổi trống đồng Ngọc Lũ được các nhà nghiên cứu người Việt và người Pháp biết đến từ năm 1902 và vang danh thế giới vào nửa sau thế kỷ 20. Thế nhưng, xuất xứ của trống đồng Ngọc Lũ không phải ở làng Ngọc Lũ, mà là từ làng Như Trác, cách Ngọc Lũ khoảng hơn 10 km.
Làng Như Trác nằm bên hữu ngạn sông Hồng. Thời Nguyễn, làng Như Trác được gọi là xã Như Trác, thuộc tổng Thổ Ốc, huyện Nam Xương (sau đổi là huyện Lý Nhân), tỉnh Hà Nam. Đê sông Hồng phía Hà Nam thời Nguyễn nhiều lần bị vỡ, gây lụt lội, dân tình vô cùng khổ sở. Người dân Ngọc Lũ (huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) giỏi nghề đào đất, nên được huy động đi đào đất đắp đê ở làng Như Trác. Theo lời kể của dân thời ấy, khoảng năm 1893, trong khi đào đất ở bãi cát bồi, một số người thợ làng Ngọc Lũ thấy ở dưới độ sâu 2 m lộ ra một trống đồng còn nguyên vẹn. Họ bí mật khiêng trống đồng băng qua sông Châu Giang về cúng vào đình làng Ngọc Lũ.
Khoảng năm 1901, một họa sĩ người Pháp đến vẽ phong cảnh tại đình Ngọc Lũ, thấy trống quý, liền báo cho quan Công sứ tỉnh Hà Nam. Chiếc trống đồng được đem tham dự cuộc đấu xảo ở Hà Nội ngày 15-11-1902. Viện Viễn Đông Bác cổ mua lại chiếc trống này với giá 550 đồng vào tháng 4-1903, lưu giữ ở Bảo tàng Louis Finot (nay là Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Năm 1958, bảo vật quốc gia trống đồng Ngọc Lũ được giao lại cho Việt Nam.
Trống đồng Ngọc Lũ có đường kính bề mặt 79,3 cm; đường kính chân 80 cm; cao 63 cm, nặng 86 kg, hiện được lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đây là chiếc trống có hoa văn đẹp nhất so với tất cả những chiếc trống thuộc nền văn hóa Đông Sơn.
Trống đồng Ngọc Lũ là cổ vật tiêu biểu đạt đến đỉnh cao nghệ thuật của văn hóa Đông Sơn cách đây khoảng 2.000 – 2.500 năm.
Văn hóa Đông Sơn được gọi theo tên của làng Đông Sơn (ven sông Mã, tỉnh Thanh Hóa), nơi lần đầu tiên phát hiện ra các hiện vật khảo cổ đặc trưng cho cả một thời kỳ lịch sử.
Trống đồng là cổ vật của nền văn hóa Đông Sơn.
Nghề đúc trống đồng của người Việt cổ đã thất truyền từ lâu.
Nhiều chiếc trống đồng được ra đời theo phiên bản trống đồng Ngọc Lũ nhưng chưa có chiếc nào đạt được chất lượng về kỹ thuật và mỹ thuật như trống đồng nguyên bản.
Truy nguyên địa danh Ngọc Lũ nơi xuất xứ cổ vật trống đồng để thấy rằng không có địa danh Ngọc Lữ, ( trong Sứ Điệp Trống Đồng , biên khảo của Lm Kim Định có nhắc đến Ngọc Lữ, có thể là xếp chữ typo sai chính tả).
Trong lịch sử cũng có Ngọc Lữ, Quận vương mẫu Trịnh Thần phi Trịnh Thị Ngọc Lữ là vợ của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi)
Bà là con gái của hào trưởng Trịnh Quốc Hoàn là người vợ từ thuở hàn vi khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn.
Tóm lại :
Ngọc Lũ là tên địa danh chính xác (làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam), nơi phát hiện ra chiếc trống đồng cổ nổi tiếng và đẹp nhất của văn hóa Đông Sơn.
(VIẾT ĐỂ GHI NHỚ)
mnc
Tháng 9/26 
 
 
 

 

ĐIỀU CHỈNH THIÊN NHIÊN

 May be an image of child and smiling

 

ĐIỀU CHỈNH THIÊN NHIÊN
Hai chú tiểu ngồi hóng mát dưới bóng cây trứng cá già cỗi trong sân chùa.
Một chú nằm kê đầu trên hai tay nhìn lên vòm lá xanh chi chít những trái li ti và nói với bạn :
- Thiên nhiên có những điều thiệt bất hợp lý cần phải điểu chỉnh!
Chú tiểu kia nghe bạn nói vậy bèn ngạc nhiên hỏi lại :
- Thiên nhiên có gì là bất hợp lý, anh thử nói rõ hơn cho tôi nghe không.
- Này nhé! Anh có thấy cây trứng cá cho chúng ta bóng mát cả ngày to lớn xum xuê, cành nào cành nấy lực lưỡng, thế mà chúng cho trái nhỏ xíu như cái móng tay …
- Tôi vẫn chưa thấy có gì là nghịch lý cả?! Chú kia vặn lại.
- Còn kia kìa, anh nhìn xem giàn bí đao, thân dây mỏng manh mà lại cho những trái là trái to như quả dưa hấu hay quả dừa là sao !?
Chẳng phải là thiên nhiên cần phải sửa chữa, hoán đổi cho hợp lý hơn chăng!
Ngay lúc đó một trận gió to thổi đến làm những trái trứng cá li ti rơi lóc cóc lên đầu hai chú tiểu.
Chú kia nãy giờ lắng nghe bạn giải thích, bèn xoa tay lên đầu mà nói với sãi bạn:
- Thiệt là may! Nếu thiên nhiên sửa chữa điều chỉnh sự bất hợp lý đúng như anh đã luận giải thì có lẽ chúng ta đã vỡ đầu chết tốt rồi.
Còn đâu mà ngồi bàn bạc như thế này ư !
mnc
 

 

Monday, September 14, 2026

Mùi tục vị

 

“Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu “
Là hai câu song thất trong 356 câu thơ Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Nguyễn Gia Thiều là một khúc ngâm dài thể hiện nỗi niềm ai oán, cô đơn buồn khổ hy vọng của người cung nữ. Nàng từng được vua ân sủng, yêu thương nhưng chẳng bao lâu thì phải chịu cảnh lạnh lùng trong cung cấm.
Được viết bằng chữ Nôm với đầy dẫy điền cố Hán Việt nằm trong nhịp thơ song thất lục bát đặc thù của văn học Việt Nam, từng được đưa vào sách giáo khoa Quốc Văn, xếp loại Cổ văn cho năm cuối bậc trung học đệ nhất cấp.
“Mùi tục vị … Đường thế đồ … “ một cặp biền ngẫu đối nhau.
Với 14 chữ trong hai câu thơ này đã có 8 từ ngữ Hán Việt: “tục vị (lụy), tân khổ, thế đồ, kỳ khu”.
Kỳ dư là chữ Nôm.
Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ khi khu.
Diễn nghĩa ra là
Vị đời đắng cay mà ai sống cũng phải nếm qua
Đường đời gập ghềnh làm gót chân lỗ rỗ sạn chai.
Điều đáng nói ở đây là “tục vị“ (俗味)” đã có nghĩa là “mùi đời trần tục” và “thế đồ" (世途) nghĩa là “đường đời”.
Có người cho rằng Nguyễn Gia Thiều viết “Mùi tục vị … Đường thế đồ” là dư chữ Mùi và Đường, (vì vị đã là mùi và đồ đã là đường); cũng như bây giờ có người vẫn viết “ngày sinh nhật”, “ngày Chúa Nhật” , “ ngày Chủ nhật”… có dư chữ ngày (nhật là ngày) trong đó không?
Có bản bolero viết “Hôm nay ngày Chủ Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh. Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi, Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên …” ( Vườn Tao Ngộ)
Bà Ba Phải cho rằng cách viết lưỡng khả như vậy trong tiếng Việt có sai mà cũng không sai ,?! ( đúng là ba phải) kể ra thì nhiều lắm: cây cổ thụ, sông Cửu Long Giang, sông Hoàng Hà … núi Thái Sơn..người bệnh nhân … lễ quốc khánh v.v …
mnc
(Nghĩ vụn trong ngày)
⚜️
Ghi chú
“Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu.
Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.
Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ,
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu.
Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,
Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.
Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán,
Chết đuối người trên cạn mà chơi!
Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.”
( Cung Oán Ngâm Khúc - Nguyễn Gia Thiều)

 

Sunday, September 13, 2026

MỘT CHỮ MAI

 May be an image of leather flower

MỘT CHỮ MAI
Mai là một trong “Tuế hàn tam hữu” một bài học Hán văn khi tôi được học (với thầy Trần Trọng San năm xưa); nghĩa đen là ba người bạn mùa lạnh, là một hình tượng nghệ thuật bao gồm Tùng (松), Trúc (竹) và Mai (梅).Ba loại cây vẫn xanh tươi trong mùa đông giá, là biểu trưng cho khí tiết thanh cao, đạo đức và bản lĩnh của người quân tử.
“Mai” khi tôi học Tuế Hàn Tam Hữu là chữ Mai (gồm bên trái là bộ Mộc 木 chỉ ý, bên phải chữ Mỗi 每 biểu âm) âm Hán là Méi, âm Nôm (tiếng Việt) đọc là Mai, một loài thảo mộc thân gỗ là cây mai (mai hoa) nhưng không cùng họ với cây mai vàng ngày Tết của Việt Nam.
Nó là hàn mai (còn gọi là lạp mai) trong thơ cổ Trung Hoa , mà ngay cả Mãn Giác Thiền sư (Đình tiền tạc dạ nhất chi mai)
đến Nguyễn Du (Mai cốt cách, tuyết tinh thần), rồi Cao Bá Quát (Nhất sinh đê thủ bái mai hoa)đều nói đến một loài Mai mà người Trung Hoa gọi là "Méi", tức là cây Mai Mơ, nhiều người Việt chúng ta gọi là Bạch mai thuộc họ Hoa hồng.
Trong các bản gốc chữ Hán các câu thơ, câu kệ, câu đối của các tác giả vừa nêu đều dùng chữ 梅 hoặc 槑.
Hàn mai (còn được mệnh danh là mai quân tử) ra hoa từ Đông sang Xuân, thường trải qua một thời ký băng giá, đôi khi chịu phủ tuyết đầy cành, che lấp cả hoa, nhưng hoa vẫn xinh tươi. Khi đậu trái có nhân cứng, có phủ đầy lông mịn. Quả chín được dùng làm ô mai (mơ đen) dùng chữa bệnh.
Mai (Hán Việt) có nhiều nghĩa theo nhiều cách viết như sau:
埋 mai / 媒 mai / 枚 mai / 梅 mai / 槑 mai / 楳 mai / 槑 mai / 薶 mai • 貍 mai / 霾 mai / 每 mai
Riêng về chữ Mai ( bộ Mộc )
Có hai chữ Mai trong tiếng Hán là 梅 và 枚.
Đầu tiên, chữ Mai trong tiếng Hán 梅 có phiên âm /méi/, mang ý nghĩa là “cây mai, cây mơ”, “hoa mai, hoa mơ, quả mơ” hoặc “họ Mai, tên Mai”.
Còn chữ Mai trong tiếng Hán thứ hai đó là 枚, phiên âm /méi/, mang ý nghĩa là “cái, tấm”(táo nhất mai (một trái táo), hàm mai bôn tẩu (ngậm tăm mà chạy) hoặc “họ Mai”.
Mai chữ Nôm mà cụ Nguyễn Du khi cách điệu tả hai chị em Thúy Vân Thúy Kiều:
“Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười “ Chính là “mai” này đây.
Mai (tiếng Nôm) cũng rắc rối nhiêu khê không khác gì Mai (Hán Việt).
Ngoài Mai ( cây Mai, hoa mai, họ Mai tên Mai) có bộ Mộc như trên, ta còn có nhiều chữ Mai ( đếm thấy có 17 cách viết và hiểu chữ Mai ( Nôm)
Này nhé:
- Mai trong “ngày mai”, “một mai”có bộ Nhật (ngày)
“Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim" (ca dao)
- Mai trong “mai một”, mai phục, mai táng” có bộ Thổ ( đất)
- Mai trong cái mai (cái cuốc) có bộ Kim ( sắt thép)
“Một mai, một cuốc, một cần câu” (Thú nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Mai trong mai trúc, mai tre
“Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng” (ca dao VN - trấn thủ lưu đồn) có bộ Trúc
- Mai trong “súng hỏa mai”, có bộ Hoả (lửa)
“Một tay thì cắp hỏa mai,
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền” (ca dao VN - trấn thủ lưu đồn)
- Mai trong “bà mai” bà mối có bộ Nữ
“Ở đời có bốn cái ngu
Làm mai lãnh nợ gác cu, cầm chầu “
- Mai trong “mỉa mai” có bộ Khẩu (miệng)
- Mai trong “mai khôi” (hoa hồng, đá ngọc đỏ) có bộ Ngọc
- Mai trong “sương mai” có bộ Vũ (mưa)
Ngày xưa các cụ học Hán, học Nôm cả 10 năm đèn sách (thập niên đăng hoả) mới thấu hiểu cái học nhà Nho!
Nay nhờ chữ Quốc Ngữ nên ta học tiếng Việt mau hơn. Nhưng không chắc là thấu hiểu dễ dàng hơn xưa đâu nhé !
Những năm xưa ở miền Nam tự do, khi chúng tôi học ĐH Sư Phạm, dù chỉ để dạy môn Việt văn nhưng vẫn phải học tiếng Hán, tiếng Nôm để biết truy nguyên nguồn gốc của chữ để thấu đáo nghĩa của từ ngữ tiếng Việt là vậy.
Hôm nay, tình cờ đọc lại bài viết của một đàn anh năm xưa ở miền Nam vào cái “thời lai đồ điếu thành công dị” quyền bính “chó nhảy bàn độc” khi “trí thức không bằng cục phân” sách vở bị đốt như thời Tần “phần thư khanh nho” thì QUYỀN SÁCH CHÉP TAY “ … bị tịch thu và đã bị đốt lâu rồi” chỉ là một nỗi ngậm ngùi khó tả.
Ôi! Đọc lại mà cảm khái biết bao!
13/9/26
mnc
QUYỀN SÁCH CHÉP TAY
Trần Duy Phiên
1.
Một ngày làm cỏ mệt bở hơi tai, tôi vừa vác cuốc về tới nhà, thằng bé hàng xóm đang ôm vở chờ ở hiên.
- Có việc gì không cháu? -Tôi hỏi, lao cuốc vào bụi chuối sát hè.
Thằng bé ngập ngừng, theo tôi vào nhà.
- Cháu có điều không hiểu muốn chú chỉ giúp cho - Nó nói, ngồi xuống chiếc ghế con, mở vở đặt lên giữa hai bắp đùi - Câu này, chú à.... - Ngón tay lấm mực tè ra trên mặt giấy, nó ngẩng mặt nhìn tôi.
- Thì đọc to lên đi! - Đang thay áo bên trong liếp cửa, tôi giục, mình mẩy đang lúc rít rát mồ hôi.
- “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” - Nó lại ngẩng mặt chờ tôi.
Tôi không thèm nhìn theo ngón tay nó nữa. Ba mươi năm trước, tôi đã thuộc nằm lòng. “Mai cốt cách, tuyết tinh thần. Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”, hai câu thơ Đoạn Trường Tân Thanh hiện lên trong trí tôi rõ như hai người đẹp.
- Thúy Kiều, Thúy Vân đó mà! - Tôi cười, bước ra khỏi liếp cửa buồng kéo ghế ngồi bên thằng bé.
- Cháu cũng biết như thế - Nó lại ngước nhìn tôi, ngập ngần - Nhưng thưa chú... Nhưng mà... cái chữ “mai” này này!
Hiểu rõ yêu cầu của thằng bé, tôi giải thích:
- “Mai” ở đây là giống cây có hoa trắng hoặc vàng, ra bông vào độ cuối đông đầu xuân. Thơ biểu tượng, tác giả muốn ví von thân dáng mảnh khảnh của người đẹp như vóc mai khẳng khiu.
Thằng bé khẽ gật đầu, thỏa mãn, vui vẻ ra về.
2.
Thằng bé ra về, tôi bắt đầu buồn bực...
Cũng như mọi người, lớn lên tôi đã cố học lấy một nghề mình yêu thích. Không tính tháng ngày lê la ở mẫu giáo và một vài năm thi cử lận đận, năm năm tiểu học, sáu năm trung học, bốn năm đại học, tôi ra trường làm nghề dạy học.
Đứng lớp, cầm phấn, kiếm sống bằng hơi sức chưa tới mươi năm, tôi đành thôi ngang... Tờ đơn thấm đẫm nước mắt xin nghỉ việc tôi gởi tận tay cha nó. Ngày ấy anh Hoàng vừa ở núi xuống, còn khỏe mạnh, giữ chức hiệu trưởng. Anh quản lý nhà trường như một chính ủy cầm quyền tư lệnh. Anh dồn dập rót vào đầu chúng tôi và buộc chúng tôi giội lên đầu học trò những tràng kế hoạch, phương án, biện pháp, triển khai, tiến công, quán triệt, khẩn trương, theo dõi, bám sát, truy diệt...
Về lớp, chúng tôi không thấy kẻ thù đâu cả, không biết trấn áp ai, thanh toán cái gì! Nhưng vì pháp lệnh, vì nghị quyết, vì chỉ thị... buộc giáo viên và cả học trò phải có thành tích báo cáo. Trước mắt, giáo viên chúng tôi sẽ được vào biên chế, được tiền thưởng cuối năm, may ra còn được xếp loại tiên tiến, hoặc xa hơn, đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua. Giáo viên theo dõi, truy bức nhau, học sinh rình rập bới móc nhau, nghĩa là, từ thầy đến trò bằng cách nào đó phải nhanh chóng tạo ra kẻ thù và biến hắn thành nạn nhân rồi lên mặt góp ý xây dựng. Nhưng góp đâu chẳng thấy chỉ thấy tan, xây đâu chẳng thấy chỉ thấy đổ! Căng quá, bứt. Lương tri là loại đèn không cần năng lượng nào cả. Áo cơm cần nhưng không đủ mặn để muối mặt. Kiến thức cần nhưng không phải chỉ dùng ở nhà trường. Giáo viên lai rai bỏ nghề. Học sinh lả tả bỏ học.
Riêng tôi, ra đi không phải chỉ vì ngần ấy. Cũng như người thợ - coi trọng đồ nghề, giáo viên chúng tôi quý sách. Anh Hoàng truyền một lệnh từ trên xuống tịch thu sách báo đồi trụy. Bí thư chi đoàn cho người tới tận nhà tôi mang giúp hơn một ngàn quyển sách đến trường. Tôi rưng rưng xin anh Hoàng cho giữ lại một số thiết thân, cam đoan đây là những sách báo nghiêm túc dùng để tra cứu. Anh dửng dưng nhìn tôi với ánh mắt lạnh, ngấm ngầm răn đe. Uất ức đến đau tức lồng ngực, nhưng tôi câm lặng đứng nhìn. Hội trường biến thành nơi quy tập, sách báo ném vào tới tấp, un cao như một ngọn đồi. Đã mấy lần vuốt mặt, nước mắt vẫn dẫy tràn, sợ người ta phát hiện, tôi cúi mặt ra hiên, rồi lẳng lặng ra về.
Tuần sau, hội trường trống rỗng, sách báo đã được dọn sạch, chẳng sót một tấm bìa. Một nhân viên văn phòng cho tôi hay đa phần đã được chuyển ra chợ bán ký để người ta gói hàng. Một người khác còn cho hay, ngại lan tỏa nọc độc văn hóa đồi trụy, trước khi đem bán ông Hoàng đã cho thanh lọc thông qua nhãn mác sách và nhà xuất bản rồi đưa đi đốt ngay sau hầm cầu nhà trường. Trong số sách của mình, tôi tiếc thương bộ Larousse, bộ Bách khoa Số học, Sử ký Tư Mã Thiên, bộ tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình của Léon Tolstoi, Anh em nhà Karamazov của Dostoievsky, toàn tập Đường Thi, Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Nam Hoa Kinh của Trang Tử, bộ sưu tầm tranh thời Phục Hưng... và nhất là tập Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du do thầy tôi chép tay bằng chữ Nôm cho tôi - món quà dành riêng cho đứa học trò cưng của mình.
3.
Sáng hôm sau thằng bé đến nhà tôi khi trời còn mù sương.
- Chú ơi! - Nó gọi lớn ngay từ ngoài ngõ.
- Gì đấy nữa? - Tôi bước ra hiên, cố dằn giọng cho bớt xẵng.
- Cháu mới đọc tờ báo này... - Nó bước vào, hai tay căng ra trước mặt tôi một trang báo. Đang cho nước vào bình, tôi xoay người cúi xuống. Thằng bé tỏ vẻ lo lắng -Tác giả bài viết này không giải thích như chú.
Nước đổ tràn lan, mắt tôi vẫn không rời những dòng chữ nhỏ như kiến. Tác giả bài này tự đắc phát hiện “mai” trong câu thơ này không phải là loại hoa cảnh, “mai” ở đây là một giống tre. Cơ sở đưa ra để phủ bác cách hiểu cũ là trích hai câu trong bài ca dao lính thú đời xưa.
- “Miếng ăn măng trúc măng mai, những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng” - Thằng bé đọc lớn đoạn văn rồi nhìn tôi chờ đợi.
Trúc, mai, giang, nứa... đều là họ nhà tre. Tôi sinh ra ở Huế, lớn lên, đi vào thì có nhưng đi ra thì chưa. Cây mai tre tôi nào biết mô tê gốc ngọn, nhưng tổ tiên đã đưa vào ca dao kia mà! Cái gì mình không biết không phải nó không có. Ngày ở Huế, tôi chỉ biết tre trúc, tre hóp, tre mày, tre giáo, tre lồ ô, tre ngà, tre mỡ, tre gai, tre vàng... Lên Kontum, tôi biết thêm tre le.
- Cháu đã hỏi mẹ chưa?
- Rồi ạ, nhưng mẹ cháu không biết. Mẹ cháu dạy môn sử. Mẹ bảo cháu qua nhờ chú chỉ cho.
- Thế thầy giáo phụ trách bộ môn?
Nó đứng im lặng, hết gãi tai thì vò đầu. Bóng nắng vào sân. Công trồng là công bỏ, công làm cỏ là công ăn - bài học nghề mới của tôi. Nghĩ đến rẫy sắn đám khoai, cỏ dại đang theo mưa tranh đất, tôi nói:
- Cháu hỏi thầy giáo ngay đi! Phần chú, chưa biết phải giải thích thế nào cho ổn. Để khi thư thả, chú suy nghĩ, tra cứu lại.
Thằng bé ra về. Tôi hộc tốc vác cuốc qua ngõ, vừa đi vừa nhớ quyển sách của thầy tôi cho.
4.
Tôi đang ăn, thằng bé lại đến, đi thẳng vào nhà.
- Thầy giáo mắng cháu là thứ vớ vẩn, giáo khoa là pháp lệnh tại sao không chịu tin theo, không chịu tiếp thu, mà cứ nhong nhong bên ngoài, cuối năm thi rớt sẽ trắng mắt ra.
Tôi vẫn tiếp tục ăn. Nó kéo ghế ngồi bên cạnh, tỉ tê kể lại. Theo thầy giáo, “mai” ở đây là cây mơ, có nơi gọi là môi, quả nhỏ như táo Tàu, thường dùng làm kẹo - kẹo “ô mai” vừa ngọt vừa mặn vừa chua các em hay ngậm đấy! Thầy giáo cũng không vừa, dẫn chứng ca dao: “Trúc xinh trúc mọc bờ ao, mai xinh mai đứng chỗ nào cũng xinh”. Thầy còn lập luận, nếu Nguyễn Du dùng từ “mai” là mai tre, sao không viết “Tre cốt cách...” hoặc “Trúc cốt cách...” sẽ phổ cập và tạo biểu tượng gần gũi hơn. Nguyễn Du là một nhà thơ chứ đâu phải nhà sinh vật học chuyên sưu tầm giống cây quý hiếm. Vậy “mai” ở đây nhất định không phải mai tre.
- Cháu về học bài đi! - Cuối bữa, tôi nói - Cháu quá biết cả ngày hôm nay chú bám rẫy, không có thì giờ tra cứu mà cũng chẳng biết bàn bạc với ai!
Thằng bé về, tôi khoác áo đi ngay... Tôi chợt nhớ anh Phùng là một tay văn học lịch lãm, đáng bậc đàn anh của tôi. Sách không có, phải hỏi người, biết làm sao!
Đã tới lúc nghỉ ngơi nhưng anh Phùng vẫn vui vẻ đón tôi, sai con pha trà, rút ngăn kéo lấy ra mấy điếu thuốc thơm. Anh cũng khó khăn như tôi, thường hút thuốc rê. Có dịp, ai cho năm ba điếu anh dành lại, gặp bạn tâm đắc mới toài ra. Mồi thuốc xong, tôi vào đề ngay:
- Anh hiểu thế nào về từ “mai’ trong “mai cốt cách...”?
- “Mai” là một giống tre -Sau một lúc tập trung, anh thận trọng nói.
Tôi tạm đứng về phía đối lập - gom cả ý mình với lập luận của thầy giáo, phản bác anh tới tấp. Anh Phùng im lặng, xoắn xe từng sợi tóc bạc giữa mấy ngón tay khô khốc. Đã quen phong thái trầm tư của anh mỗi khi gặp chuyện khó khăn, tôi nhâm nhi trà và thả hồn theo khói thuốc. Tới lúc bình trà cạn, anh nói:
- Các cụ ta ngày xưa không đề cao cây mai cảnh bằng cây mai tre. Họ nhà tre là biểu tượng của quân tử. Tiết trực tâm hư - Anh khẽ cười - Nếu con chim sẻ đậu trên cành mai cảnh, chắc hẳn quan trạng Mạc Đĩnh Chi không việc gì mà phẫn nộ, và quan khâm sứ của ta khó mà có đủ chứng lý để hàng phục danh sĩ Trung Hoa - Anh lại cười - Từ Huế trở vào người ta quí cây mai cảnh, trở ra, người ta chỉ trọng đào. Đừng quên Nguyễn Du sinh ra và lớn lên ở Tiên Điền, Hà Tĩnh - một vùng đất phía bắc của tổ quốc.
- Nhưng biết đâu? - Tôi liền nhẹ nhàng đặt nghi vấn - biết đâu Nguyễn Du viết Đoạn Trường Tân Thanh khi đã theo Gia Long vào Huế làm quan?
Anh Phùng cau mặt ngồi im. Trời trở lạnh, tôi ra về. Đây là lần đầu tiên tôi cầu cứu mà chẳng nhận được từ anh Phùng một trợ giúp nào. Đêm nay chắc cả hai chúng tôi đều mất ngủ. Lao lực như nông dân, lao tâm như học giả, là thế sống thua thiệt nhất của những ai đang là trí thức xã hội chủ nghĩa. Biết thế, nhưng tôi đã lỡ mang nghiệp vào thân.
5.
Thằng bé để yên cho tôi dăm ba hôm rồi quay lại.
- Chú đã tìm giúp cháu được chưa? - Nó hỏi, tôi lắc đầu - Vậy bây giờ làm sao hở chú?
- Có một cách... - Tôi chợt im, xoay mặt hướng khác. Thằng bé dịch chuyển theo, mắt môi hong hóng nhìn lên - Nhưng... -Tôi vừa cất cao giọng, lại uất nghẹn tắc tị ngay.
- Nhưng là nhưng thế nào? Chú nói đi!
- Chú có một quyển sách -Tôi lập chập ngồi vào bàn - Chính xác, chú có một quyển Đoạn Trường Tân Thanh chép tay bằng chữ Nôm - thứ chữ mà Nguyễn Du dùng để viết nên tác phẩm ấy. Chỉ việc mở ra, cúi xuống... Nếu “mai” là mai tre, trên đầu phải có bộ trúc. Nếu “mai” là mai cảnh, ở bên phải là bộ mộc...
- Vậy chú còn chờ gì nữa? - Nó háo hức ngắt lời.
- Nhưng cha cháu đã tịch thu và đã đốt lâu rồi!
Thằng bé ấm ức cúi mặt. Tôi ngồi lặng thinh.
T.D.P.
(Kontum. 1989).
See less

 

Sunday, July 26, 2026

THÁNG SÁU TRỜI MƯA

 Tháng 6 Trời Mưa - Vũ Khanh (nhạc: Hoàng Thanh Tâm - thơ: Nguyên Sa)

THÁNG SÁU TRỜI MƯA
Trời vẫn hay mưa vào tháng Sáu
Thời tiết chuyển sang nóng mùa hè
Lũ học trò xưa không đến lớp
Sao còn nghe vẳng những tiếng ve.
Tháng Sáu nào trời lại không mưa. Dù ờ Houston …Mc Allen … bây giờ hay Sài Gòn những năm xưa. Tôi vẫn nhớ ông Nguyên Sa, thi sĩ của tình yêu đã viết bài thơ Tháng Sáu Trời Mưa làm bao nhiêu người mộng mơ trời mưa tháng Sáu.
“Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt,
Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa,
Anh lạy trời mưa phong toả đường về,
Và đêm ơi xin cứ dài vô tận.”
Trời mưa ở Sài Gòn năm xưa của chúng tôi, những cơn mưa Sài Gòn là ký ức tình yêu thời hoa niên thơ mộng của chúng tôi.
Mưa Sài Gòn rất quen và rất lạ
Những cơn mưa tháng Sáu đến tháng Mười
Bên này mưa bên kia đường lại nắng
Và áo em trắng muốn nổ con ngươi.
Ơi! Những lời thơ Tháng Sàu trời mưa là những lời ngợi ca Nhan Sắc. Một “Nhan Sắc Nguyên Sa” khắc họa lãng mạn tình yêu, như một lời tỏ tình kín đáo mà chẳng ngại ngùng, khác hẳn “Nhan Sắc Dương Nghiễm Mậu” mà thời đó chúng tôi cũng rất yêu.
"Da em trắng, anh chẳng cần ánh sáng,
Tóc em mềm, anh chẳng thiết mùa xuân.
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân.
Vì anh gọi tên em là nhan sắc".
Tháng Sáu nơi đây vẫn có những cơn mưa bất chợt buổi chiều.
Mưa đấy rồi nắng đấy.
Những cơn mưa rào trong nắng miền nam Texas làm tôi nhớ Sài Gòn nhiều.
Sài Gòn của chúng tôi những năm xưa. Sài Gòn nắng Sài Gòn mưa
“Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều,
Cánh tay tà áo sát vòng eo.
Có nghe đôi mắt vòng quanh áo,
Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo.
Sài Gòn phóng solex rất nhanh,
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants.
Có nghe hơi thở cài vương miện,
Lên tóc đen mềm nhung rất nhung.
Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm,
Tờ hoa trong sách cũng nằm im.
Đầu thư và cuối cùng trang giấy,
Những chữ y dài trông rất ngoan.
Sài Gòn tối đi học một mình,
Cột đèn theo gót bóng lung linh.
Mặt trăng theo ánh đèn: trăng sáng,
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng.
Sài Gòn cười đôi môi rất tròn,
Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong.
Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng,
Hay đã đưa dần sang nhớ mong.
Sài Gòn gối đầu trên cánh tay,
Những năm mười sáu mắt nhìn mây.
Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn,
Tiếng nhạc đang về dang cánh bay.
Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa,
Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard,
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót,
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ.
Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng,
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân.
Lưng trời không có bầy chim én,
Thành phố đi về cũng đã xuân,
Nguyên Sa
(Tám phố Sài Gòn)
Sài Gòn của chúng tôi thời ấy làm gì có phố có phường như Hà Nội ba mươi sáu phố phường nhỉ. Ấy thế mà ông thi sĩ Nguyên Sa của chúng tôi bảo là Tám phố Sài Gòn mà “Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng”
Ơi tiếng “cưng” của miền Nam sao mà dễ thương đến thế!
Tám đoạn thơ của “Tám phố Sài Gòn” là Sài Gòn một thuở xa xưa một thời ngồi thư viện, một
thời Velo Solex (sau là Honda) với “đôi tay hoàng yến ngủ trong gants.” Những thứ Bảy đi “bát phố”Bonard … như Nguyên Sa kể trong thơ mà những người trẻ bây giờ không hề biết đã có một Sài Gòn đáng yêu như thế.
Vừa nhắc lại “đi bát phố”(một thứ tiếng “lóng” của miền Nam một thời của chúng tôi) có nghĩa là đi dạo phố hay đi “dzung dzăng dzung dzẻ” với bạn hay người yêu mỗi chiều cuối tuần trên Đại lộ Lê Lợi, la cà Khai Trí, ăn bò bía ăn kem hay uống nước mía Viễn Đông ..
thi sĩ của chúng tôi cũng rất “chơi” chữ ( hihihi ! không <chơi “từ”> nha) đã biến “đi bát phố” Sài Gòn thành “Tám phố Sài Gòn” (bát 8 là tám 8 đấy thôi)
Chịu Thầy Trần Bích Lan !
Ơi! Những giọt mưa tháng Sáu đài mùa hè rơi xuống làm dịu mát cơn nắng hạn nóng bỏng miền Nam Texas đã làm tôi nhớ Tháng Sáu Trời Mưa nơi Sài Gòn, thủ đô miền Nam yêu dấu một thời của chúng tôi!
Rồi lan man “Tám phố Sài Gòn” !
Thương lắm! Nhớ lắm!
Sài Gòn xưa gọi nhau bằng “cưng”
Đã xa lâu lắm vẫn hoài thương
Bao giờ ta gặp “em” lần nữa
Có lẽ chỉ còn một nắm xương
mnc
Mc Allen
tháng Sáu
2026

 

Wednesday, July 22, 2026

@lan man mùa hạ

 

Một nhúm mồng tơi, vài nhánh rau đay, hai ba cọng dền, mấy ngọn bồ ngót, đậu bắp vài trái, thiên lý năm ba bông… thứ nào cũng một tí, một ít … chẳng đủ nổi lớn, thì gom lại nấu chung với nhúm tôm khô giã dập dập, thành nồi rau tập tàng. Nhà ít người, nồi canh này cũng ăn được mấy ngày.
Canh rau tập tàng mẹ nấu cho ăn từ thuở nhỏ, mẹ bảo là rau tập tàng thì biết là rau tập tàng,
Sáng nay ra vườn gom rau các loại, tỉ mẩn nhặt rau, nấu nồi canh tập tàng nhỏ, lại nhớ mẹ
Ôi! Những thẳng già nhớ mẹ
Tâm viên ý mã chợt tự hỏi sao lại là “tập tàng” nhỉ ?
Trăm năm trong cõi người ta
Điều gì không biết thì tra Gu Gồ
 Tác dụng bất ngờ của hoa thiên lý đối với sức khoẻ
 
Nhà thông thái bảo là “tập họp những loại rau “tàng”. Bác í còn cho biết :”Tập tàng” là lẫn lộn nhiều thứ rau vốn có giá trị không đáng kể vào nhau.
Mấy vị hay chữ cho “tàng” thuộc bộ thảo, là cỏ hoang, một cách nôm na tên gọi “tập tàng” tập hợp nhiều loại rau cỏ.
Có nguồn từ bà nội trợ người Huế lớn tuổi ngày xưa (chắc cũng vào bậc nhiều chữ)bảo “tập tàng” là nói trại của “thập toàn” (mười món rau toàn diện) như kiểu chè “thập cẩm” (mười món chè quý giá).
Giải thích nào nghe cũng xuôi tai.
Lại nhớ cái xe đạp cà tàng, bộ quần áo tàng ngày xưa còn bé mẹ bảo đừng mặc nữa, để mẹ mua cho mấy bộ mới! Tàng lại là cũ kỹ không ra gì.
Trong lớp có mấy đứa “mất dạy” ỷ lớn làm tàng chọc ghẹo mấy đứa yếu hơn. Làm tàng cũng là không tốt.
Rồi nhớ trong khi “Kim Kiều tái hợp” cụ Nguyễn Du viết:
“Tàng tàng chén cúc dở say
Đứng lên Vân mới giải bày nguồn cơn”
Nguồn cơn ra làm sao thì phải đọc lại đoạn cuối Truyện Kiều
Vậy tàng cũng là dở sao?! Không! Ý cụ Nguyễn là tàng tàng nửa nọ nửa kia như chàng Kim
ngà ngà nửa tỉnh nửa say
hoa thơm đánh cả cụm này mới ưa
Mấy tay tàng tàng là mấy tay mát mát khôn không ra khôn mà dại không ra dại cũng có lẽ từ Kiểu mà ra hay sao
Tàng như thế thì xoàng quá!
Nhưng canh rau tập tàng mẹ nấu ngày xưa thì ngon và mát cái ruột nhất là vào những ngày nóng như hôm nay.
@lan man mùa hạ
mnc
22/7

Friday, June 26, 2026

CÓ “NƯỚC AN NAM” và “TIẾNG AN NAM” KHÔNG?

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru …
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui .
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi.
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi! “ (Tình Ca - Phạm Duy)
CÓ “NƯỚC AN NAM” và “TIẾNG AN NAM” KHÔNG?
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta từ thời Hùng Vương lập quốc đã hơn 4.000 năm lịch sử (nếu tính theo truyền thuyết năm 2879 Trước Công Nguyên) thì nước ta đã trải qua gần 5.000 năm), và trong suốt chiều dài lịch sử đó, cha ông ta luôn dùng tiếng Việt (tiếng bản địa) làm ngôn ngữ (tiếng nói) chính.
Một quốc gia phải có một danh xưng, quốc hiệu chính thức do chính đất nước ấy tự chọn.
Theo dòng lịch sử,
* VĂN LANG: Quốc hiệu đầu tiên của nước ta với thời kỳ các vua Hùng lập quốc.
* ÂU LẠC: Tên nước thời An Dương Vương (năm 257 Trước Công Nguyên)
* VẠN XUÂN: Quốc hiệu được sử dụng dưới thời nhà Tiền Lý (khi Lý Bí lên ngôi Hoàng đế năm 544) và kéo dài đến thời nhà Ngô.
* ĐẠI CỒ VIỆT: Quốc hiệu bắt đầu từ thời nhà Đinh (năm 968) dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng, tiếp qua thời Tiền Lê và đầu thời nhà Lý.
* ĐẠI VIỆT: Do vua Lý Thánh Tông đặt vào năm 1054.
Đây là quốc hiệu tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử, trải dài từ các triều đại nhà Lý, nhà Trần và nhà Hậu Lê.
* ĐẠI NGU: Quốc hiệu thời nhà Hồ (1400 - 1407)do Hồ Quý Ly đặt. Chữ "Ngu" ở đây mang ý nghĩa là sự yên vui, hòa bình, [như thời Nghiêu (Ngu) Thuấn].
* VIỆT NAM : Được vua Gia Long chính thức đặt vào năm 1804, sau khi thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam cho đến ngày nay.
Có người cho “AN NAM” là tên nước ta và có “TIẾNG AN NAM”?
Xin thưa, AN NAM chưa bao giờ là quốc hiệu chính thức do người Việt tự đặt, và không có một triều đại độc lập nào mang tên "Nhà nước An Nam" trong lịch sử nước ta.
Danh xưng này có nguồn gốc sâu xa do sự áp đặt của các triều đại phong kiến phương Bắc và thực dân phương Tây. Cụ thể vấn đề này được hiểu theo các khía cạnh lịch sử sau:
1. NGUỒN GỐC DANH XƯNG “AN NAM”
* Thời Bắc thuộc: Vào năm 679 (thời nhà Đường), triều đình Trung Quốc thành lập một bộ máy cai trị tại vùng đất giao chỉ của nước ta và đặt tên là An Nam đô hộ phủ (安南都護府). Chữ "An Nam" mang ý nghĩa là "dẹp yên/bình định vùng đất phía Nam". Đây hoàn toàn là tên gọi mang tính chất cai trị từ bên ngoài.
*Dù nước ta giành độc lập và tự đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt hay Đại Việt, các hoàng đế Trung Hoa (từ thời nhà Tống năm 1164) vẫn dùng sắc phong "An Nam quốc vương" cho các vua Việt Nam. Trong các văn bản ngoại giao song phương mang tính triều cống, phía Trung Quốc gọi nước ta là "An Nam quốc".
Tuy nhiên, trong cha ông ta qua các triều đại luôn phòng bị và đối kháng phương Bắc vẫn khẳng định chủ quyền độc lập với quốc hiệu riêng (như đã nêu trên).
* Thời Pháp thuộc: Khi thực dân Pháp xâm lược và chia cắt nước ta thành ba kỳ (nằm trong liên bang Đông Dương thuộc Pháp); bọn họ dùng từ "Annam" (tiếng Pháp) để gọi riêng vùng đất Trung Kỳ(nằm dưới sự bảo hộ danh nghĩa của triều đình nhà Nguyễn). Người Pháp cũng dùng từ "Annamite" để gọi chung cho người Việt lúc bấy giờ.
2. CÓ “NHÀ NƯỚC AN NAM” KHÔNG?
* KHÔNG có nhà nước TỰ CHỦ nào mang tên này: Suốt các triều đại phong kiến độc lập từ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, chính quyền trung ương của người Việt luôn tự xưng là một triều đại chính thống với các quốc hiệu kiêu hãnh như Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Đại Nam và Việt Nam.
* Sự phản kháng của cha ông: Người Việt luôn phản kháng lại danh xưng An Nam mang tính miệt thị này.
Minh chứng rõ nhất là vào năm 1802, khi vua Gia Long thống nhất đất nước, ông đã kiên quyết gửi sứ bộ sang nhà Thanh yêu cầu đổi quốc hiệu, bác bỏ hoàn toàn tên gọi "An Nam" để thay bằng quốc hiệu mới. Sự thỏa hiệp ngoại giao sau đó đã khai sinh ra quốc hiệu Việt Nam vào năm 1804.
Tóm lại, "An Nam" chỉ là một ngoại danh (exonym) – tên có tính miệt thị do người nước ngoài dùng để gọi Việt Nam bị trị trong một thời kỳ lịch sử, chứ không phải là quốc hiệu tự chủ của nước ta.
CÓ MỘT THỨ TIẾNG GỌI LÀ “TIẾNG AN NAM” KHÔNG?!
AN NAM là ngoại danh miệt thị của ngoại bang áp đặt thì
“Tiếng An Nam" (tiếng Pháp: la langue annamite) chính là Tiếng Việt ngày nay, nhưng dưới cách gọi của ngoại bang thống trị đất nước ta thời Pháp thuộc.
Tương tự như danh xưng "An Nam", tên gọi "tiếng An Nam" không phải do người Việt tự đặt mà xuất hiện và tồn tại trong lịch sử thông qua góc nhìn của các triều đại phương Bắc và thực dân Pháp.
Khái niệm này được hiểu qua các giai đoạn lịch sử sau:
1. Thời phong kiến (Cái nhìn của phương Bắc và phương Tây)
* Từ phía Trung Hoa: Do các triều đại phong kiến nước lớn phương Bắc quen gọi nước ta là "An Nam quốc", nên họ cũng gọi ngôn ngữ của người Việt là "An Nam ngôn" hoặc "An Nam ngữ".
* Từ phía phương Tây: Khi các giáo sĩ phương Tây đến nước ta truyền đạo vào thế kỷ 17, họ sử dụng tên gọi này để học và nghiên cứu ngôn ngữ bản địa. Cuốn từ điển quốc ngữ đầu tiên của giáo sĩ Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 có tên là Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum(thường gọi là Từ điển Việt - Bồ - La), trong đó chữ "Annamiticum" có nghĩa là "tiếng An Nam".
NGƯỜI VIỆT GỌI NGÔN NGỮ NƯỚC MÌNH LÀ GÌ ?
Trong niềm tự hào đất nước quê hương, cha ông ta chưa bao giờ tự gọi tiếng mẹ đẻ của mình là "tiếng An Nam". Thay vào đó, người Việt dùng các ngôn từ thuần túy và tự hào hơn
* Tiếng Ta, tiếng mình: Cách gọi bình dân gần gũi để phân biệt với "tiếng Tây" (tiếng Pháp) hay "tiếng Tàu" (tiếng Hán).
* Tiếng Nam, Chữ Nam: Cách gọi khẳng định vị thế quốc gia độc lập ở phương Nam (đối lập với phương Bắc).
* Tiếng Việt: danh xưng "Tiếng Việt" là Quốc Ngữ chính thức được sử dụng thống nhất toàn quốc cho đến ngày nay. Môn Việt ngữ trong học đường được gọi là môn Quốc văn (VNCH)
Tóm lại, "tiếng An Nam" chỉ là một tên gọi miệt thị xưa cũ, mang tính lịch sử của một thời bị trị.
Ngày nay, AN NAM VÀ TIẾNG AN NAM này không còn được sử dụng và càng không nên tự hào nhắc nhở về nó, vì nó gợi nhớ đến thời kỳ đất nước bị đô hộ và mất chủ quyền.
Hãy gọi một cách tự hào về VIỆT NAM và VIỆT NGỮ
Mong lắm thay!
mnc
6/26

Wednesday, June 3, 2026

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG

 No photo description available.

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG
Cao Bá Quát và vua Tự Đức
Giai thoại kể rằng: Một hôm, vua Tự Đức ngẫu hứng làm được hai câu thơ luật chữ Hán có xen vào hai chữ thuần Nôm rất độc đáo:
“Viên trung hảo điểu liêu tiêu ngữ,
Dã ngoại đào hoa lác đác khai."
Có nghĩa là
Trong vườn chim đẹp hót líu riu
Ngoài đồng hoa đào nở lác đác
Vua lấy làm đắc ý nên khi thiết triều đem khoe cho đám quần thần biết tài làm thơ độc đáo của quân vương, và còn “phịa” rằng nhờ thần báo mộng nên mới sáng tác được hai câu “thần thi”.
Trong khi đám quần thần hết lời khen ngợi tâng bốc thơ vua, thì có một viên quan nhỏ là Cao Bá Quát tâu rằng đây chỉ là hai câu thực trong bài thơ cũ mà ông đã thuộc từ thuở nhỏ.
Vua Tự Đức kinh ngạc, lập tức bắt Cao Bá Quát đọc lại toàn bộ bài thơ đó và nếu không thì sẽ bị trị tội khi quân
Ung dung, Cao Chu Thần ứng khẩu đọc nguyên bài tám câu trong đó có 2 câu mà vua đã tự đắc khoe :
Vô đề
Bảo mã tây phong huếch hoác lai,
Huênh hoang nhân tự thác đề hồi.
Viên trung hảo điểu liêu tiêu ngữ,
Dã ngoại đào hoa lác đác khai.
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp,
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài.
Khù khờ thi tứ đa nhân thức,`
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài “
Bài thơ vừa xướng lên, quần thần thì thán phục, vua thì kinh ngạc tím mặt lặng người.
Trong 6 câu thơ nối điêu với 2 câu mà vua Tự Đức đã khoe kết thành bài thất ngôn bát cú hoàn hảo. Mỗi câu thơ có 2 chữ thuần Nôm xen lẫn 5 chữ Hán Việt, đọc lên ta nhận ra ngay nào “huếch hoác, huênh hoang, liêu tiêu (xiêu), lác đác, lộp bộp, bài nhài, khù khờ, khệnh khạng” toàn là tính từ thuần Việt vừa tượng thanh, tượng hình… đầy tính châm biếm “nôm na mách qué” chen vào những chữ Hán Việt trang trọng và bác học đầy ý tứ.
Thì hỏi làm sao vua không tím mặt thán phục mà không bắt bẻ gì được nhà thơ họ Cao.
Diễn nôm toàn bài là
Không đề
Huếch hoác ngựa về theo gió đưa,
Huênh hoang người cũng tự về chưa.
Trong vườn, oanh vũ khề khà hót
Ngoài nội, hoa đào lấm tấm thưa .
Lộp bộp ngày xuân sương chẳng rụng,
Trời thu chỉ thấy bài nhài mưa.
Khù khờ thi tứ nhiều người biết,
Khệnh khạng đem ra hỏi cũng thừa ?"
Bài thơ trong giai thoại này chẳng phải là thơ thần, thơ thánh gì.  Nó chỉ là 1 giai thoại về thơ ứng đối mà Cao Bá Quát dùng để châm biếm sự tự đắc, háo danh của vua chúa thời ấy. Chua cay là câu cuối “Khệnh khang tương lai vấn tú tài” có ý chê bai thơ vua vớ vẩn như vậy mà cũng khệnh khạng đem ra khoe với ông tú tài.
Vua Tự Đức biết là Cao Bá Quát bịa ra bài thơ để giễu mình, nhưng đành chịu tài "xuất khẩu thành thơ" trác tuyệt của Cao Bá Quát mà không làm gì ông được.
Giai thoại cũng cho thấy tính khí ngông nghênh, “coi trời bằng vung” của “Thánh Quát” đã đưa ông đến cảnh nổi loạn, chống lại triều đình… và kết thúc cuộc đời tài hoa khi mới 46 tuổi để lại án “tru di tam tộc” cho dòng họ.
Thương thay!
mnc
June 10

Monday, May 25, 2026

ĐỌC LẠI VÀI BÀI THƠ NGÀY CHIẾN SĨ TRẬN VONG

 

CHINH PHỤ NGÂM
“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa, nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai: già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.
Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ.
Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên reo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.
Áng công danh trăm đường rộn rã,
Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi,
Nỗi lòng biết tỏ cùng ai?
Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.”
Đoàn Thị Điểm
❤️
THƯƠNG CA I : Ngày mai đi nhận xác chồng
Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ơi thèm nụ hôn quen
Đêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
Chiếc quan tài phủ cờ màu
Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng
Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.
Lê Thị Ý
(Đây là bài thơ thứ nhất trong tập thơ Thương ca gồm 10 bài do tác giả làm năm 1970. Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Tưởng như còn người yêu.
Lời kể của tác giả về hoàn cảnh sáng tác bài thơ: “Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.”
❤️
“Đợi anh về
Chỉ còn trên vầng trán đứa bé thơ, tấm khăn sô, bơ vơ người góa phụ cầu được sống trong mơ …🎶”. ( Người ở lại Charlie - Trần Thiện Thanh)
❤️
CHÀNG VỀ
Chàng về trong mộng đêm đêm,
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
Ngày qua nàng vẫn trông chờ,
Tháng, rồi năm, vẫn giấc mơ liền cành.
Biết đâu chàng đã trở thành,
Xương tàn một nắm vô danh bên trời.
Bờ sông bãi cát bồi hồi,
Đã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu?!
Chữ đồng tạc lấy cho sâu,
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.
Là Nam Bắc, là âm dương,
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây.”
Vũ Hoàng Chương
❤️
GOÁ PHỤ
Con chim nào chết khô trên cửa
Cửa đóng tự ngàn năm bặt âm
Như đạo bùa thiêng yểm cổ mộ
Sao người khai giải chưa về thăm?
Em tìm chạy anh ngoài cõi gió
Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn
Tiếng kêu đá lở long thiên cổ
Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn
Em độc thoại lời kinh ánh xanh
Trăng lu, khuya mỏi, nén nhang tàn
Chó tru thăm thẳm ngày thiên địa
Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn
Ngọn đèn hư ảo chong linh vị
Thắp trắng thời gian mái tóc em
Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh
Hồn xa con đóm lạc sâu đêm
Cỏ cây sống chết há ta thán
Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh?
Thảng như con ngựa già vô dụng
Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình
Tô Thùy Yên
❤️
SƠN TRUNG QUẢ PHỤ
Phu nhân binh tử thủ bồng mao,
Ma trữ y sam mấn phát tiêu.
Tang giá phế lai do nạp thuế,
Điền viên hoang hậu thượng chinh miêu.
Thì khiêu dã thái hoà căn chử,
Toàn chước sinh sài đới diệp thiêu.
Nhậm thị thâm sơn cánh thâm xứ,
Dã ưng vô kế tỵ chinh diêu.
Đỗ Tuân Hạc
杜荀鶴 (846-904), thi nhân đời Vãn Đường, tự Ngạn Chi 彥之, hiệu Cửu Hoa sơn nhân 九華山人, người Thạch Đại 石埭, Trì Châu 池州 Trung Quốc.
Chú thích:
Chá 柘 : cây chá , giống như cây dâu dùng để nuôi tằm .
Chinh 征 , cũng đọc là trưng 徵 : thu, lấy.
Chinh phú 征賦: lấy thuế, chinh thuế 征稅 : thu thuế. Như Trưng phú 徵賦: thu thuế
BÀ GOÁ TRONG NÚI
Nhà nghèo,chồng chết trận lâu rồi,
Mái tóc hoa râm tấm áo sồi.
Canh cửi, sưu cao đành bỏ phế,
Ruộng vườn, thuế nặng để hoang thôi.
Lượm rau cỏ dại làm canh húp,
Mót rác rơm tươi chụm đáy nồi.
Chui rúc trong hang cùng hóc núi,
Vẫn không tránh khỏi thuế sưu đòi .
cao nguyên
Mai Ngọc Cường (dịch thơ)

Wednesday, May 20, 2026

Pleiku phố nhỏ

 

Tôi đến Pleiku như khách lạ
Tình cờ qua phố, phố mù sương
Là thân lính thú vùng biên trấn
Quanh năm làm bạn với núi rừng
Đôi lần được phép về ngang phố
Cởi áo phong sương rũ bụi mù
Cũng là một chút gì để nhớ
Một thời cùng phố núi Pleiku
Pleiku phố nhỏ nhưng vô cùng gần gũi
Phép đôi ngày thì còn biết đi đâu
Ghé Dinh Điền làm ly cafe đậm đặc
Rồi loanh quanh Diệp Kính ngắm sắc mầu
Mắt lính quen màu xanh rừng núi
Nhìn ánh đèn phố thị bâng khuâng
Trong bóng chiều buông trời sắp tối
Ơi! Em Pleiku má đỏ môi hồng
Những chuyến xe qua mù bụi đỏ
Và mưa phố núi quyện gót giầy
Một vài kỷ niệm nơi phố núi
Đủ lãng quên đời trong phút giây
Nhớ chỗ quen đường Cao Bá Quát
Quán không tên, người chẳng nhớ tên
Phố núi cao mênh mang câu hát
Còn một chút gì để nhớ để quên
Em Pleiku xin một lần lỗi hẹn
Gót chinh nhân không nhớ lối quay về
Biết làm sao trong dòng đời dâu biển
Vẫn nhớ Pleiku một chốn quê
mnc