Ban Biên Tập: H K Châu, L N Hui, Ng L Hương, C Ng Cường, Ng C Lâm, Ng Đ Thắng, NTHương

Sunday, September 20, 2026

nhớ câu ca dao

 

Sớm mai ra thăm vườn khi nắng chưa lên sương còn đọng trên lá cỏ. Hoa thiên lý, bông ớt, bông hẹ nở bung, tươi tốt… toàn là những loài hoa …ăn được. Chụp dàn bông hẹ trắng muốt in trên nền đen lại nhớ câu ca dao
Mưa lâm râm ướt đầm bông hẹ
Anh thương một người có mẹ có cha
Cây hẹ cũng rối như canh hẹ, tên tiếng Anh của nó là Chinese Chives vì xuất xứ từ vùng Shānxī (Sơn Tây) miền bắc Trung Quốc.
Tiếng Hán gọi nó là rau cửu. Ta gọi là hẹ
Đỗ Phủ thời Thịnh Đường có nhắc đến rau hẹ trong bài ngũ ngôn cổ thi Tặng Vệ bát xử sĩ (Tặng chàng xử sĩ họ Vệ) trích đoạn cuối :
Dạ vũ tiễn xuân cửu,
Tân xuy gián hoàng lương.
Chủ xưng hội diện nan,
Nhất cử luỹ thập trường.
Thập trường diệc bất tuý,
Cảm tử cố ý trường.
Minh nhật cách sơn nhạc,
Thế sự lưỡng mang mang
Dịch
Hái rau hẹ xuân trong mưa đêm
Cơm lẫn kê vàng vừa chín tới
Thật khó mới có dịp tương hội
Phải uống mười chén rượu một hơi
Mười chén rượu liền cũng chưa say
Chỉ cảm say vì tình bằng hữu
Ngày mai cách xa sau buổi rượu
Việc đời man mác biết về đâu (mnc)
Ôi!
“Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu” (Nguyễn Gia Thiều)
Việc đời bao giờ cũng rối như canh hẹ, nhưng để vài phút tạm ngắm bông hẹ trắng sáng nay cho nhẹ lòng … Bạn ơi! 
MNC 
 

Saturday, September 19, 2026

TRỐNG ĐỒNG. DI SẢN BIỂU TƯỢNG VĂN MINH NƯỚC VIỆT CỔ

 

TRỐNG ĐỒNG. DI SẢN BIỂU TƯỢNG VĂN MINH NƯỚC VIỆT CỔ
Mới đây, chiếc trống đồng Đông Sơn, một bảo vật quốc gia, “được các nhà khoa học Pháp giám định có niên đại từ khoảng thế kỷ thứ V (trước Công Nguyên) với chiều cao 40,7cm, đường kính 54,5cm, nặng 17,2kg, đã bị Pháp tịch thu năm 2014, sau 12 năm đã được “châu về Hiệp phố”.
Hiện tại, Việt Nam và Pháp chưa công bố danh tính hay quốc tịch cụ thể của cá nhân hay tổ chức nào đứng sau vụ vận chuyển chiếc trống đồng Đông Sơn này nhập lậu từ Senegal vào Pháp cách nay 12 năm.
Trống đồng Ngọc Lũ
Trống đồng là một cổ vật là di sản là biểu tượng của nền văn minh Việt cổ đại.
Đây là chiếc trống có hoa văn đẹp nhất so với tất cả những chiếc trống thuộc nền văn hóa Đông Sơn.
Văn hóa Đông Sơn và Trống đồng Ngọc Lũ
Tên trống được gọi theo tên làng Ngọc Lũ, nơi người Pháp phát hiện ra chiếc trống này. Làng Ngọc Lũ còn có tên Nôm là làng Chủ, trước năm 1945 gọi là "xã Ngọc Lũ" (xã chỉ có một làng), nằm cạnh bờ sông Châu Giang, thuộc tổng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Tên tuổi trống đồng Ngọc Lũ được các nhà nghiên cứu người Việt và người Pháp biết đến từ năm 1902 và vang danh thế giới vào nửa sau thế kỷ 20. Thế nhưng, xuất xứ của trống đồng Ngọc Lũ không phải ở làng Ngọc Lũ, mà là từ làng Như Trác, cách Ngọc Lũ khoảng hơn 10 km.
Làng Như Trác nằm bên hữu ngạn sông Hồng. Thời Nguyễn, làng Như Trác được gọi là xã Như Trác, thuộc tổng Thổ Ốc, huyện Nam Xương (sau đổi là huyện Lý Nhân), tỉnh Hà Nam. Đê sông Hồng phía Hà Nam thời Nguyễn nhiều lần bị vỡ, gây lụt lội, dân tình vô cùng khổ sở. Người dân Ngọc Lũ (huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) giỏi nghề đào đất, nên được huy động đi đào đất đắp đê ở làng Như Trác. Theo lời kể của dân thời ấy, khoảng năm 1893, trong khi đào đất ở bãi cát bồi, một số người thợ làng Ngọc Lũ thấy ở dưới độ sâu 2 m lộ ra một trống đồng còn nguyên vẹn. Họ bí mật khiêng trống đồng băng qua sông Châu Giang về cúng vào đình làng Ngọc Lũ.
Khoảng năm 1901, một họa sĩ người Pháp đến vẽ phong cảnh tại đình Ngọc Lũ, thấy trống quý, liền báo cho quan Công sứ tỉnh Hà Nam. Chiếc trống đồng được đem tham dự cuộc đấu xảo ở Hà Nội ngày 15-11-1902. Viện Viễn Đông Bác cổ mua lại chiếc trống này với giá 550 đồng vào tháng 4-1903, lưu giữ ở Bảo tàng Louis Finot (nay là Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Năm 1958, bảo vật quốc gia trống đồng Ngọc Lũ được giao lại cho Việt Nam.
Trống đồng Ngọc Lũ có đường kính bề mặt 79,3 cm; đường kính chân 80 cm; cao 63 cm, nặng 86 kg, hiện được lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đây là chiếc trống có hoa văn đẹp nhất so với tất cả những chiếc trống thuộc nền văn hóa Đông Sơn.
Trống đồng Ngọc Lũ là cổ vật tiêu biểu đạt đến đỉnh cao nghệ thuật của văn hóa Đông Sơn cách đây khoảng 2.000 – 2.500 năm.
Văn hóa Đông Sơn được gọi theo tên của làng Đông Sơn (ven sông Mã, tỉnh Thanh Hóa), nơi lần đầu tiên phát hiện ra các hiện vật khảo cổ đặc trưng cho cả một thời kỳ lịch sử.
Trống đồng là cổ vật của nền văn hóa Đông Sơn.
Nghề đúc trống đồng của người Việt cổ đã thất truyền từ lâu.
Nhiều chiếc trống đồng được ra đời theo phiên bản trống đồng Ngọc Lũ nhưng chưa có chiếc nào đạt được chất lượng về kỹ thuật và mỹ thuật như trống đồng nguyên bản.
Truy nguyên địa danh Ngọc Lũ nơi xuất xứ cổ vật trống đồng để thấy rằng không có địa danh Ngọc Lữ, ( trong Sứ Điệp Trống Đồng , biên khảo của Lm Kim Định có nhắc đến Ngọc Lữ, có thể là xếp chữ typo sai chính tả).
Trong lịch sử cũng có Ngọc Lữ, Quận vương mẫu Trịnh Thần phi Trịnh Thị Ngọc Lữ là vợ của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi)
Bà là con gái của hào trưởng Trịnh Quốc Hoàn là người vợ từ thuở hàn vi khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn.
Tóm lại :
Ngọc Lũ là tên địa danh chính xác (làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam), nơi phát hiện ra chiếc trống đồng cổ nổi tiếng và đẹp nhất của văn hóa Đông Sơn.
(VIẾT ĐỂ GHI NHỚ)
mnc
Tháng 9/26 
 
 
 

 

ĐIỀU CHỈNH THIÊN NHIÊN

 May be an image of child and smiling

 

ĐIỀU CHỈNH THIÊN NHIÊN
Hai chú tiểu ngồi hóng mát dưới bóng cây trứng cá già cỗi trong sân chùa.
Một chú nằm kê đầu trên hai tay nhìn lên vòm lá xanh chi chít những trái li ti và nói với bạn :
- Thiên nhiên có những điều thiệt bất hợp lý cần phải điểu chỉnh!
Chú tiểu kia nghe bạn nói vậy bèn ngạc nhiên hỏi lại :
- Thiên nhiên có gì là bất hợp lý, anh thử nói rõ hơn cho tôi nghe không.
- Này nhé! Anh có thấy cây trứng cá cho chúng ta bóng mát cả ngày to lớn xum xuê, cành nào cành nấy lực lưỡng, thế mà chúng cho trái nhỏ xíu như cái móng tay …
- Tôi vẫn chưa thấy có gì là nghịch lý cả?! Chú kia vặn lại.
- Còn kia kìa, anh nhìn xem giàn bí đao, thân dây mỏng manh mà lại cho những trái là trái to như quả dưa hấu hay quả dừa là sao !?
Chẳng phải là thiên nhiên cần phải sửa chữa, hoán đổi cho hợp lý hơn chăng!
Ngay lúc đó một trận gió to thổi đến làm những trái trứng cá li ti rơi lóc cóc lên đầu hai chú tiểu.
Chú kia nãy giờ lắng nghe bạn giải thích, bèn xoa tay lên đầu mà nói với sãi bạn:
- Thiệt là may! Nếu thiên nhiên sửa chữa điều chỉnh sự bất hợp lý đúng như anh đã luận giải thì có lẽ chúng ta đã vỡ đầu chết tốt rồi.
Còn đâu mà ngồi bàn bạc như thế này ư !
mnc
 

 

Monday, September 14, 2026

Mùi tục vị

 

“Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu “
Là hai câu song thất trong 356 câu thơ Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Nguyễn Gia Thiều là một khúc ngâm dài thể hiện nỗi niềm ai oán, cô đơn buồn khổ hy vọng của người cung nữ. Nàng từng được vua ân sủng, yêu thương nhưng chẳng bao lâu thì phải chịu cảnh lạnh lùng trong cung cấm.
Được viết bằng chữ Nôm với đầy dẫy điền cố Hán Việt nằm trong nhịp thơ song thất lục bát đặc thù của văn học Việt Nam, từng được đưa vào sách giáo khoa Quốc Văn, xếp loại Cổ văn cho năm cuối bậc trung học đệ nhất cấp.
“Mùi tục vị … Đường thế đồ … “ một cặp biền ngẫu đối nhau.
Với 14 chữ trong hai câu thơ này đã có 8 từ ngữ Hán Việt: “tục vị (lụy), tân khổ, thế đồ, kỳ khu”.
Kỳ dư là chữ Nôm.
Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ khi khu.
Diễn nghĩa ra là
Vị đời đắng cay mà ai sống cũng phải nếm qua
Đường đời gập ghềnh làm gót chân lỗ rỗ sạn chai.
Điều đáng nói ở đây là “tục vị“ (俗味)” đã có nghĩa là “mùi đời trần tục” và “thế đồ" (世途) nghĩa là “đường đời”.
Có người cho rằng Nguyễn Gia Thiều viết “Mùi tục vị … Đường thế đồ” là dư chữ Mùi và Đường, (vì vị đã là mùi và đồ đã là đường); cũng như bây giờ có người vẫn viết “ngày sinh nhật”, “ngày Chúa Nhật” , “ ngày Chủ nhật”… có dư chữ ngày (nhật là ngày) trong đó không?
Có bản bolero viết “Hôm nay ngày Chủ Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh. Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi, Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên …” ( Vườn Tao Ngộ)
Bà Ba Phải cho rằng cách viết lưỡng khả như vậy trong tiếng Việt có sai mà cũng không sai ,?! ( đúng là ba phải) kể ra thì nhiều lắm: cây cổ thụ, sông Cửu Long Giang, sông Hoàng Hà … núi Thái Sơn..người bệnh nhân … lễ quốc khánh v.v …
mnc
(Nghĩ vụn trong ngày)
⚜️
Ghi chú
“Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu.
Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.
Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ,
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu.
Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,
Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.
Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán,
Chết đuối người trên cạn mà chơi!
Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.”
( Cung Oán Ngâm Khúc - Nguyễn Gia Thiều)

 

Sunday, September 13, 2026

MỘT CHỮ MAI

 May be an image of leather flower

MỘT CHỮ MAI
Mai là một trong “Tuế hàn tam hữu” một bài học Hán văn khi tôi được học (với thầy Trần Trọng San năm xưa); nghĩa đen là ba người bạn mùa lạnh, là một hình tượng nghệ thuật bao gồm Tùng (松), Trúc (竹) và Mai (梅).Ba loại cây vẫn xanh tươi trong mùa đông giá, là biểu trưng cho khí tiết thanh cao, đạo đức và bản lĩnh của người quân tử.
“Mai” khi tôi học Tuế Hàn Tam Hữu là chữ Mai (gồm bên trái là bộ Mộc 木 chỉ ý, bên phải chữ Mỗi 每 biểu âm) âm Hán là Méi, âm Nôm (tiếng Việt) đọc là Mai, một loài thảo mộc thân gỗ là cây mai (mai hoa) nhưng không cùng họ với cây mai vàng ngày Tết của Việt Nam.
Nó là hàn mai (còn gọi là lạp mai) trong thơ cổ Trung Hoa , mà ngay cả Mãn Giác Thiền sư (Đình tiền tạc dạ nhất chi mai)
đến Nguyễn Du (Mai cốt cách, tuyết tinh thần), rồi Cao Bá Quát (Nhất sinh đê thủ bái mai hoa)đều nói đến một loài Mai mà người Trung Hoa gọi là "Méi", tức là cây Mai Mơ, nhiều người Việt chúng ta gọi là Bạch mai thuộc họ Hoa hồng.
Trong các bản gốc chữ Hán các câu thơ, câu kệ, câu đối của các tác giả vừa nêu đều dùng chữ 梅 hoặc 槑.
Hàn mai (còn được mệnh danh là mai quân tử) ra hoa từ Đông sang Xuân, thường trải qua một thời ký băng giá, đôi khi chịu phủ tuyết đầy cành, che lấp cả hoa, nhưng hoa vẫn xinh tươi. Khi đậu trái có nhân cứng, có phủ đầy lông mịn. Quả chín được dùng làm ô mai (mơ đen) dùng chữa bệnh.
Mai (Hán Việt) có nhiều nghĩa theo nhiều cách viết như sau:
埋 mai / 媒 mai / 枚 mai / 梅 mai / 槑 mai / 楳 mai / 槑 mai / 薶 mai • 貍 mai / 霾 mai / 每 mai
Riêng về chữ Mai ( bộ Mộc )
Có hai chữ Mai trong tiếng Hán là 梅 và 枚.
Đầu tiên, chữ Mai trong tiếng Hán 梅 có phiên âm /méi/, mang ý nghĩa là “cây mai, cây mơ”, “hoa mai, hoa mơ, quả mơ” hoặc “họ Mai, tên Mai”.
Còn chữ Mai trong tiếng Hán thứ hai đó là 枚, phiên âm /méi/, mang ý nghĩa là “cái, tấm”(táo nhất mai (một trái táo), hàm mai bôn tẩu (ngậm tăm mà chạy) hoặc “họ Mai”.
Mai chữ Nôm mà cụ Nguyễn Du khi cách điệu tả hai chị em Thúy Vân Thúy Kiều:
“Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười “ Chính là “mai” này đây.
Mai (tiếng Nôm) cũng rắc rối nhiêu khê không khác gì Mai (Hán Việt).
Ngoài Mai ( cây Mai, hoa mai, họ Mai tên Mai) có bộ Mộc như trên, ta còn có nhiều chữ Mai ( đếm thấy có 17 cách viết và hiểu chữ Mai ( Nôm)
Này nhé:
- Mai trong “ngày mai”, “một mai”có bộ Nhật (ngày)
“Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim" (ca dao)
- Mai trong “mai một”, mai phục, mai táng” có bộ Thổ ( đất)
- Mai trong cái mai (cái cuốc) có bộ Kim ( sắt thép)
“Một mai, một cuốc, một cần câu” (Thú nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Mai trong mai trúc, mai tre
“Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng” (ca dao VN - trấn thủ lưu đồn) có bộ Trúc
- Mai trong “súng hỏa mai”, có bộ Hoả (lửa)
“Một tay thì cắp hỏa mai,
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền” (ca dao VN - trấn thủ lưu đồn)
- Mai trong “bà mai” bà mối có bộ Nữ
“Ở đời có bốn cái ngu
Làm mai lãnh nợ gác cu, cầm chầu “
- Mai trong “mỉa mai” có bộ Khẩu (miệng)
- Mai trong “mai khôi” (hoa hồng, đá ngọc đỏ) có bộ Ngọc
- Mai trong “sương mai” có bộ Vũ (mưa)
Ngày xưa các cụ học Hán, học Nôm cả 10 năm đèn sách (thập niên đăng hoả) mới thấu hiểu cái học nhà Nho!
Nay nhờ chữ Quốc Ngữ nên ta học tiếng Việt mau hơn. Nhưng không chắc là thấu hiểu dễ dàng hơn xưa đâu nhé !
Những năm xưa ở miền Nam tự do, khi chúng tôi học ĐH Sư Phạm, dù chỉ để dạy môn Việt văn nhưng vẫn phải học tiếng Hán, tiếng Nôm để biết truy nguyên nguồn gốc của chữ để thấu đáo nghĩa của từ ngữ tiếng Việt là vậy.
Hôm nay, tình cờ đọc lại bài viết của một đàn anh năm xưa ở miền Nam vào cái “thời lai đồ điếu thành công dị” quyền bính “chó nhảy bàn độc” khi “trí thức không bằng cục phân” sách vở bị đốt như thời Tần “phần thư khanh nho” thì QUYỀN SÁCH CHÉP TAY “ … bị tịch thu và đã bị đốt lâu rồi” chỉ là một nỗi ngậm ngùi khó tả.
Ôi! Đọc lại mà cảm khái biết bao!
13/9/26
mnc
QUYỀN SÁCH CHÉP TAY
Trần Duy Phiên
1.
Một ngày làm cỏ mệt bở hơi tai, tôi vừa vác cuốc về tới nhà, thằng bé hàng xóm đang ôm vở chờ ở hiên.
- Có việc gì không cháu? -Tôi hỏi, lao cuốc vào bụi chuối sát hè.
Thằng bé ngập ngừng, theo tôi vào nhà.
- Cháu có điều không hiểu muốn chú chỉ giúp cho - Nó nói, ngồi xuống chiếc ghế con, mở vở đặt lên giữa hai bắp đùi - Câu này, chú à.... - Ngón tay lấm mực tè ra trên mặt giấy, nó ngẩng mặt nhìn tôi.
- Thì đọc to lên đi! - Đang thay áo bên trong liếp cửa, tôi giục, mình mẩy đang lúc rít rát mồ hôi.
- “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” - Nó lại ngẩng mặt chờ tôi.
Tôi không thèm nhìn theo ngón tay nó nữa. Ba mươi năm trước, tôi đã thuộc nằm lòng. “Mai cốt cách, tuyết tinh thần. Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”, hai câu thơ Đoạn Trường Tân Thanh hiện lên trong trí tôi rõ như hai người đẹp.
- Thúy Kiều, Thúy Vân đó mà! - Tôi cười, bước ra khỏi liếp cửa buồng kéo ghế ngồi bên thằng bé.
- Cháu cũng biết như thế - Nó lại ngước nhìn tôi, ngập ngần - Nhưng thưa chú... Nhưng mà... cái chữ “mai” này này!
Hiểu rõ yêu cầu của thằng bé, tôi giải thích:
- “Mai” ở đây là giống cây có hoa trắng hoặc vàng, ra bông vào độ cuối đông đầu xuân. Thơ biểu tượng, tác giả muốn ví von thân dáng mảnh khảnh của người đẹp như vóc mai khẳng khiu.
Thằng bé khẽ gật đầu, thỏa mãn, vui vẻ ra về.
2.
Thằng bé ra về, tôi bắt đầu buồn bực...
Cũng như mọi người, lớn lên tôi đã cố học lấy một nghề mình yêu thích. Không tính tháng ngày lê la ở mẫu giáo và một vài năm thi cử lận đận, năm năm tiểu học, sáu năm trung học, bốn năm đại học, tôi ra trường làm nghề dạy học.
Đứng lớp, cầm phấn, kiếm sống bằng hơi sức chưa tới mươi năm, tôi đành thôi ngang... Tờ đơn thấm đẫm nước mắt xin nghỉ việc tôi gởi tận tay cha nó. Ngày ấy anh Hoàng vừa ở núi xuống, còn khỏe mạnh, giữ chức hiệu trưởng. Anh quản lý nhà trường như một chính ủy cầm quyền tư lệnh. Anh dồn dập rót vào đầu chúng tôi và buộc chúng tôi giội lên đầu học trò những tràng kế hoạch, phương án, biện pháp, triển khai, tiến công, quán triệt, khẩn trương, theo dõi, bám sát, truy diệt...
Về lớp, chúng tôi không thấy kẻ thù đâu cả, không biết trấn áp ai, thanh toán cái gì! Nhưng vì pháp lệnh, vì nghị quyết, vì chỉ thị... buộc giáo viên và cả học trò phải có thành tích báo cáo. Trước mắt, giáo viên chúng tôi sẽ được vào biên chế, được tiền thưởng cuối năm, may ra còn được xếp loại tiên tiến, hoặc xa hơn, đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua. Giáo viên theo dõi, truy bức nhau, học sinh rình rập bới móc nhau, nghĩa là, từ thầy đến trò bằng cách nào đó phải nhanh chóng tạo ra kẻ thù và biến hắn thành nạn nhân rồi lên mặt góp ý xây dựng. Nhưng góp đâu chẳng thấy chỉ thấy tan, xây đâu chẳng thấy chỉ thấy đổ! Căng quá, bứt. Lương tri là loại đèn không cần năng lượng nào cả. Áo cơm cần nhưng không đủ mặn để muối mặt. Kiến thức cần nhưng không phải chỉ dùng ở nhà trường. Giáo viên lai rai bỏ nghề. Học sinh lả tả bỏ học.
Riêng tôi, ra đi không phải chỉ vì ngần ấy. Cũng như người thợ - coi trọng đồ nghề, giáo viên chúng tôi quý sách. Anh Hoàng truyền một lệnh từ trên xuống tịch thu sách báo đồi trụy. Bí thư chi đoàn cho người tới tận nhà tôi mang giúp hơn một ngàn quyển sách đến trường. Tôi rưng rưng xin anh Hoàng cho giữ lại một số thiết thân, cam đoan đây là những sách báo nghiêm túc dùng để tra cứu. Anh dửng dưng nhìn tôi với ánh mắt lạnh, ngấm ngầm răn đe. Uất ức đến đau tức lồng ngực, nhưng tôi câm lặng đứng nhìn. Hội trường biến thành nơi quy tập, sách báo ném vào tới tấp, un cao như một ngọn đồi. Đã mấy lần vuốt mặt, nước mắt vẫn dẫy tràn, sợ người ta phát hiện, tôi cúi mặt ra hiên, rồi lẳng lặng ra về.
Tuần sau, hội trường trống rỗng, sách báo đã được dọn sạch, chẳng sót một tấm bìa. Một nhân viên văn phòng cho tôi hay đa phần đã được chuyển ra chợ bán ký để người ta gói hàng. Một người khác còn cho hay, ngại lan tỏa nọc độc văn hóa đồi trụy, trước khi đem bán ông Hoàng đã cho thanh lọc thông qua nhãn mác sách và nhà xuất bản rồi đưa đi đốt ngay sau hầm cầu nhà trường. Trong số sách của mình, tôi tiếc thương bộ Larousse, bộ Bách khoa Số học, Sử ký Tư Mã Thiên, bộ tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình của Léon Tolstoi, Anh em nhà Karamazov của Dostoievsky, toàn tập Đường Thi, Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Nam Hoa Kinh của Trang Tử, bộ sưu tầm tranh thời Phục Hưng... và nhất là tập Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du do thầy tôi chép tay bằng chữ Nôm cho tôi - món quà dành riêng cho đứa học trò cưng của mình.
3.
Sáng hôm sau thằng bé đến nhà tôi khi trời còn mù sương.
- Chú ơi! - Nó gọi lớn ngay từ ngoài ngõ.
- Gì đấy nữa? - Tôi bước ra hiên, cố dằn giọng cho bớt xẵng.
- Cháu mới đọc tờ báo này... - Nó bước vào, hai tay căng ra trước mặt tôi một trang báo. Đang cho nước vào bình, tôi xoay người cúi xuống. Thằng bé tỏ vẻ lo lắng -Tác giả bài viết này không giải thích như chú.
Nước đổ tràn lan, mắt tôi vẫn không rời những dòng chữ nhỏ như kiến. Tác giả bài này tự đắc phát hiện “mai” trong câu thơ này không phải là loại hoa cảnh, “mai” ở đây là một giống tre. Cơ sở đưa ra để phủ bác cách hiểu cũ là trích hai câu trong bài ca dao lính thú đời xưa.
- “Miếng ăn măng trúc măng mai, những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng” - Thằng bé đọc lớn đoạn văn rồi nhìn tôi chờ đợi.
Trúc, mai, giang, nứa... đều là họ nhà tre. Tôi sinh ra ở Huế, lớn lên, đi vào thì có nhưng đi ra thì chưa. Cây mai tre tôi nào biết mô tê gốc ngọn, nhưng tổ tiên đã đưa vào ca dao kia mà! Cái gì mình không biết không phải nó không có. Ngày ở Huế, tôi chỉ biết tre trúc, tre hóp, tre mày, tre giáo, tre lồ ô, tre ngà, tre mỡ, tre gai, tre vàng... Lên Kontum, tôi biết thêm tre le.
- Cháu đã hỏi mẹ chưa?
- Rồi ạ, nhưng mẹ cháu không biết. Mẹ cháu dạy môn sử. Mẹ bảo cháu qua nhờ chú chỉ cho.
- Thế thầy giáo phụ trách bộ môn?
Nó đứng im lặng, hết gãi tai thì vò đầu. Bóng nắng vào sân. Công trồng là công bỏ, công làm cỏ là công ăn - bài học nghề mới của tôi. Nghĩ đến rẫy sắn đám khoai, cỏ dại đang theo mưa tranh đất, tôi nói:
- Cháu hỏi thầy giáo ngay đi! Phần chú, chưa biết phải giải thích thế nào cho ổn. Để khi thư thả, chú suy nghĩ, tra cứu lại.
Thằng bé ra về. Tôi hộc tốc vác cuốc qua ngõ, vừa đi vừa nhớ quyển sách của thầy tôi cho.
4.
Tôi đang ăn, thằng bé lại đến, đi thẳng vào nhà.
- Thầy giáo mắng cháu là thứ vớ vẩn, giáo khoa là pháp lệnh tại sao không chịu tin theo, không chịu tiếp thu, mà cứ nhong nhong bên ngoài, cuối năm thi rớt sẽ trắng mắt ra.
Tôi vẫn tiếp tục ăn. Nó kéo ghế ngồi bên cạnh, tỉ tê kể lại. Theo thầy giáo, “mai” ở đây là cây mơ, có nơi gọi là môi, quả nhỏ như táo Tàu, thường dùng làm kẹo - kẹo “ô mai” vừa ngọt vừa mặn vừa chua các em hay ngậm đấy! Thầy giáo cũng không vừa, dẫn chứng ca dao: “Trúc xinh trúc mọc bờ ao, mai xinh mai đứng chỗ nào cũng xinh”. Thầy còn lập luận, nếu Nguyễn Du dùng từ “mai” là mai tre, sao không viết “Tre cốt cách...” hoặc “Trúc cốt cách...” sẽ phổ cập và tạo biểu tượng gần gũi hơn. Nguyễn Du là một nhà thơ chứ đâu phải nhà sinh vật học chuyên sưu tầm giống cây quý hiếm. Vậy “mai” ở đây nhất định không phải mai tre.
- Cháu về học bài đi! - Cuối bữa, tôi nói - Cháu quá biết cả ngày hôm nay chú bám rẫy, không có thì giờ tra cứu mà cũng chẳng biết bàn bạc với ai!
Thằng bé về, tôi khoác áo đi ngay... Tôi chợt nhớ anh Phùng là một tay văn học lịch lãm, đáng bậc đàn anh của tôi. Sách không có, phải hỏi người, biết làm sao!
Đã tới lúc nghỉ ngơi nhưng anh Phùng vẫn vui vẻ đón tôi, sai con pha trà, rút ngăn kéo lấy ra mấy điếu thuốc thơm. Anh cũng khó khăn như tôi, thường hút thuốc rê. Có dịp, ai cho năm ba điếu anh dành lại, gặp bạn tâm đắc mới toài ra. Mồi thuốc xong, tôi vào đề ngay:
- Anh hiểu thế nào về từ “mai’ trong “mai cốt cách...”?
- “Mai” là một giống tre -Sau một lúc tập trung, anh thận trọng nói.
Tôi tạm đứng về phía đối lập - gom cả ý mình với lập luận của thầy giáo, phản bác anh tới tấp. Anh Phùng im lặng, xoắn xe từng sợi tóc bạc giữa mấy ngón tay khô khốc. Đã quen phong thái trầm tư của anh mỗi khi gặp chuyện khó khăn, tôi nhâm nhi trà và thả hồn theo khói thuốc. Tới lúc bình trà cạn, anh nói:
- Các cụ ta ngày xưa không đề cao cây mai cảnh bằng cây mai tre. Họ nhà tre là biểu tượng của quân tử. Tiết trực tâm hư - Anh khẽ cười - Nếu con chim sẻ đậu trên cành mai cảnh, chắc hẳn quan trạng Mạc Đĩnh Chi không việc gì mà phẫn nộ, và quan khâm sứ của ta khó mà có đủ chứng lý để hàng phục danh sĩ Trung Hoa - Anh lại cười - Từ Huế trở vào người ta quí cây mai cảnh, trở ra, người ta chỉ trọng đào. Đừng quên Nguyễn Du sinh ra và lớn lên ở Tiên Điền, Hà Tĩnh - một vùng đất phía bắc của tổ quốc.
- Nhưng biết đâu? - Tôi liền nhẹ nhàng đặt nghi vấn - biết đâu Nguyễn Du viết Đoạn Trường Tân Thanh khi đã theo Gia Long vào Huế làm quan?
Anh Phùng cau mặt ngồi im. Trời trở lạnh, tôi ra về. Đây là lần đầu tiên tôi cầu cứu mà chẳng nhận được từ anh Phùng một trợ giúp nào. Đêm nay chắc cả hai chúng tôi đều mất ngủ. Lao lực như nông dân, lao tâm như học giả, là thế sống thua thiệt nhất của những ai đang là trí thức xã hội chủ nghĩa. Biết thế, nhưng tôi đã lỡ mang nghiệp vào thân.
5.
Thằng bé để yên cho tôi dăm ba hôm rồi quay lại.
- Chú đã tìm giúp cháu được chưa? - Nó hỏi, tôi lắc đầu - Vậy bây giờ làm sao hở chú?
- Có một cách... - Tôi chợt im, xoay mặt hướng khác. Thằng bé dịch chuyển theo, mắt môi hong hóng nhìn lên - Nhưng... -Tôi vừa cất cao giọng, lại uất nghẹn tắc tị ngay.
- Nhưng là nhưng thế nào? Chú nói đi!
- Chú có một quyển sách -Tôi lập chập ngồi vào bàn - Chính xác, chú có một quyển Đoạn Trường Tân Thanh chép tay bằng chữ Nôm - thứ chữ mà Nguyễn Du dùng để viết nên tác phẩm ấy. Chỉ việc mở ra, cúi xuống... Nếu “mai” là mai tre, trên đầu phải có bộ trúc. Nếu “mai” là mai cảnh, ở bên phải là bộ mộc...
- Vậy chú còn chờ gì nữa? - Nó háo hức ngắt lời.
- Nhưng cha cháu đã tịch thu và đã đốt lâu rồi!
Thằng bé ấm ức cúi mặt. Tôi ngồi lặng thinh.
T.D.P.
(Kontum. 1989).
See less