“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru …
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui .
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi.
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi! “ (Tình Ca - Phạm Duy)
CÓ “NƯỚC AN NAM” và “TIẾNG AN NAM” KHÔNG?
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta từ thời Hùng Vương lập quốc đã hơn 4.000 năm lịch sử (nếu tính theo truyền thuyết năm 2879 Trước Công Nguyên) thì nước ta đã trải qua gần 5.000 năm), và trong suốt chiều dài lịch sử đó, cha ông ta luôn dùng tiếng Việt (tiếng bản địa) làm ngôn ngữ (tiếng nói) chính.
Một quốc gia phải có một danh xưng, quốc hiệu chính thức do chính đất nước ấy tự chọn.
Theo dòng lịch sử,
* VĂN LANG: Quốc hiệu đầu tiên của nước ta với thời kỳ các vua Hùng lập quốc.
* ÂU LẠC: Tên nước thời An Dương Vương (năm 257 Trước Công Nguyên)
* VẠN XUÂN: Quốc hiệu được sử dụng dưới thời nhà Tiền Lý (khi Lý Bí lên ngôi Hoàng đế năm 544) và kéo dài đến thời nhà Ngô.
* ĐẠI CỒ VIỆT: Quốc hiệu bắt đầu từ thời nhà Đinh (năm 968) dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng, tiếp qua thời Tiền Lê và đầu thời nhà Lý.
* ĐẠI VIỆT: Do vua Lý Thánh Tông đặt vào năm 1054.
Đây là quốc hiệu tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử, trải dài từ các triều đại nhà Lý, nhà Trần và nhà Hậu Lê.
* ĐẠI NGU: Quốc hiệu thời nhà Hồ (1400 - 1407)do Hồ Quý Ly đặt. Chữ "Ngu" ở đây mang ý nghĩa là sự yên vui, hòa bình, [như thời Nghiêu (Ngu) Thuấn].
* VIỆT NAM : Được vua Gia Long chính thức đặt vào năm 1804, sau khi thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam cho đến ngày nay.
Có người cho “AN NAM” là tên nước ta và có “TIẾNG AN NAM”?
Xin thưa, AN NAM chưa bao giờ là quốc hiệu chính thức do người Việt tự đặt, và không có một triều đại độc lập nào mang tên "Nhà nước An Nam" trong lịch sử nước ta.
Danh xưng này có nguồn gốc sâu xa do sự áp đặt của các triều đại phong kiến phương Bắc và thực dân phương Tây. Cụ thể vấn đề này được hiểu theo các khía cạnh lịch sử sau:
1. NGUỒN GỐC DANH XƯNG “AN NAM”
* Thời Bắc thuộc: Vào năm 679 (thời nhà Đường), triều đình Trung Quốc thành lập một bộ máy cai trị tại vùng đất giao chỉ của nước ta và đặt tên là An Nam đô hộ phủ (安南都護府). Chữ "An Nam" mang ý nghĩa là "dẹp yên/bình định vùng đất phía Nam". Đây hoàn toàn là tên gọi mang tính chất cai trị từ bên ngoài.
*Dù nước ta giành độc lập và tự đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt hay Đại Việt, các hoàng đế Trung Hoa (từ thời nhà Tống năm 1164) vẫn dùng sắc phong "An Nam quốc vương" cho các vua Việt Nam. Trong các văn bản ngoại giao song phương mang tính triều cống, phía Trung Quốc gọi nước ta là "An Nam quốc".
Tuy nhiên, trong cha ông ta qua các triều đại luôn phòng bị và đối kháng phương Bắc vẫn khẳng định chủ quyền độc lập với quốc hiệu riêng (như đã nêu trên).
* Thời Pháp thuộc: Khi thực dân Pháp xâm lược và chia cắt nước ta thành ba kỳ (nằm trong liên bang Đông Dương thuộc Pháp); bọn họ dùng từ "Annam" (tiếng Pháp) để gọi riêng vùng đất Trung Kỳ(nằm dưới sự bảo hộ danh nghĩa của triều đình nhà Nguyễn). Người Pháp cũng dùng từ "Annamite" để gọi chung cho người Việt lúc bấy giờ.
2. CÓ “NHÀ NƯỚC AN NAM” KHÔNG?
* KHÔNG có nhà nước TỰ CHỦ nào mang tên này: Suốt các triều đại phong kiến độc lập từ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, chính quyền trung ương của người Việt luôn tự xưng là một triều đại chính thống với các quốc hiệu kiêu hãnh như Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Đại Nam và Việt Nam.
* Sự phản kháng của cha ông: Người Việt luôn phản kháng lại danh xưng An Nam mang tính miệt thị này.
Minh chứng rõ nhất là vào năm 1802, khi vua Gia Long thống nhất đất nước, ông đã kiên quyết gửi sứ bộ sang nhà Thanh yêu cầu đổi quốc hiệu, bác bỏ hoàn toàn tên gọi "An Nam" để thay bằng quốc hiệu mới. Sự thỏa hiệp ngoại giao sau đó đã khai sinh ra quốc hiệu Việt Nam vào năm 1804.
Tóm lại, "An Nam" chỉ là một ngoại danh (exonym) – tên có tính miệt thị do người nước ngoài dùng để gọi Việt Nam bị trị trong một thời kỳ lịch sử, chứ không phải là quốc hiệu tự chủ của nước ta.
CÓ MỘT THỨ TIẾNG GỌI LÀ “TIẾNG AN NAM” KHÔNG?!
AN NAM là ngoại danh miệt thị của ngoại bang áp đặt thì
“Tiếng An Nam" (tiếng Pháp: la langue annamite) chính là Tiếng Việt ngày nay, nhưng dưới cách gọi của ngoại bang thống trị đất nước ta thời Pháp thuộc.
Tương tự như danh xưng "An Nam", tên gọi "tiếng An Nam" không phải do người Việt tự đặt mà xuất hiện và tồn tại trong lịch sử thông qua góc nhìn của các triều đại phương Bắc và thực dân Pháp.
Khái niệm này được hiểu qua các giai đoạn lịch sử sau:
1. Thời phong kiến (Cái nhìn của phương Bắc và phương Tây)
* Từ phía Trung Hoa: Do các triều đại phong kiến nước lớn phương Bắc quen gọi nước ta là "An Nam quốc", nên họ cũng gọi ngôn ngữ của người Việt là "An Nam ngôn" hoặc "An Nam ngữ".
* Từ phía phương Tây: Khi các giáo sĩ phương Tây đến nước ta truyền đạo vào thế kỷ 17, họ sử dụng tên gọi này để học và nghiên cứu ngôn ngữ bản địa. Cuốn từ điển quốc ngữ đầu tiên của giáo sĩ Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 có tên là Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum(thường gọi là Từ điển Việt - Bồ - La), trong đó chữ "Annamiticum" có nghĩa là "tiếng An Nam".
NGƯỜI VIỆT GỌI NGÔN NGỮ NƯỚC MÌNH LÀ GÌ ?
Trong niềm tự hào đất nước quê hương, cha ông ta chưa bao giờ tự gọi tiếng mẹ đẻ của mình là "tiếng An Nam". Thay vào đó, người Việt dùng các ngôn từ thuần túy và tự hào hơn
* Tiếng Ta, tiếng mình: Cách gọi bình dân gần gũi để phân biệt với "tiếng Tây" (tiếng Pháp) hay "tiếng Tàu" (tiếng Hán).
* Tiếng Nam, Chữ Nam: Cách gọi khẳng định vị thế quốc gia độc lập ở phương Nam (đối lập với phương Bắc).
* Tiếng Việt: danh xưng "Tiếng Việt" là Quốc Ngữ chính thức được sử dụng thống nhất toàn quốc cho đến ngày nay. Môn Việt ngữ trong học đường được gọi là môn Quốc văn (VNCH)
Tóm lại, "tiếng An Nam" chỉ là một tên gọi miệt thị xưa cũ, mang tính lịch sử của một thời bị trị.
Ngày nay, AN NAM VÀ TIẾNG AN NAM này không còn được sử dụng và càng không nên tự hào nhắc nhở về nó, vì nó gợi nhớ đến thời kỳ đất nước bị đô hộ và mất chủ quyền.
Hãy gọi một cách tự hào về VIỆT NAM và VIỆT NGỮ
Mong lắm thay!
mnc
6/26
