Ban Biên Tập: H K Châu, L N Hui, Ng L Hương, C Ng Cường, Ng C Lâm, Ng Đ Thắng, NTHương

Friday, June 26, 2026

CÓ “NƯỚC AN NAM” và “TIẾNG AN NAM” KHÔNG?

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru …
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui .
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi.
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi! “ (Tình Ca - Phạm Duy)
CÓ “NƯỚC AN NAM” và “TIẾNG AN NAM” KHÔNG?
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta từ thời Hùng Vương lập quốc đã hơn 4.000 năm lịch sử (nếu tính theo truyền thuyết năm 2879 Trước Công Nguyên) thì nước ta đã trải qua gần 5.000 năm), và trong suốt chiều dài lịch sử đó, cha ông ta luôn dùng tiếng Việt (tiếng bản địa) làm ngôn ngữ (tiếng nói) chính.
Một quốc gia phải có một danh xưng, quốc hiệu chính thức do chính đất nước ấy tự chọn.
Theo dòng lịch sử,
* VĂN LANG: Quốc hiệu đầu tiên của nước ta với thời kỳ các vua Hùng lập quốc.
* ÂU LẠC: Tên nước thời An Dương Vương (năm 257 Trước Công Nguyên)
* VẠN XUÂN: Quốc hiệu được sử dụng dưới thời nhà Tiền Lý (khi Lý Bí lên ngôi Hoàng đế năm 544) và kéo dài đến thời nhà Ngô.
* ĐẠI CỒ VIỆT: Quốc hiệu bắt đầu từ thời nhà Đinh (năm 968) dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng, tiếp qua thời Tiền Lê và đầu thời nhà Lý.
* ĐẠI VIỆT: Do vua Lý Thánh Tông đặt vào năm 1054.
Đây là quốc hiệu tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử, trải dài từ các triều đại nhà Lý, nhà Trần và nhà Hậu Lê.
* ĐẠI NGU: Quốc hiệu thời nhà Hồ (1400 - 1407)do Hồ Quý Ly đặt. Chữ "Ngu" ở đây mang ý nghĩa là sự yên vui, hòa bình, [như thời Nghiêu (Ngu) Thuấn].
* VIỆT NAM : Được vua Gia Long chính thức đặt vào năm 1804, sau khi thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam cho đến ngày nay.
Có người cho “AN NAM” là tên nước ta và có “TIẾNG AN NAM”?
Xin thưa, AN NAM chưa bao giờ là quốc hiệu chính thức do người Việt tự đặt, và không có một triều đại độc lập nào mang tên "Nhà nước An Nam" trong lịch sử nước ta.
Danh xưng này có nguồn gốc sâu xa do sự áp đặt của các triều đại phong kiến phương Bắc và thực dân phương Tây. Cụ thể vấn đề này được hiểu theo các khía cạnh lịch sử sau:
1. NGUỒN GỐC DANH XƯNG “AN NAM”
* Thời Bắc thuộc: Vào năm 679 (thời nhà Đường), triều đình Trung Quốc thành lập một bộ máy cai trị tại vùng đất giao chỉ của nước ta và đặt tên là An Nam đô hộ phủ (安南都護府). Chữ "An Nam" mang ý nghĩa là "dẹp yên/bình định vùng đất phía Nam". Đây hoàn toàn là tên gọi mang tính chất cai trị từ bên ngoài.
*Dù nước ta giành độc lập và tự đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt hay Đại Việt, các hoàng đế Trung Hoa (từ thời nhà Tống năm 1164) vẫn dùng sắc phong "An Nam quốc vương" cho các vua Việt Nam. Trong các văn bản ngoại giao song phương mang tính triều cống, phía Trung Quốc gọi nước ta là "An Nam quốc".
Tuy nhiên, trong cha ông ta qua các triều đại luôn phòng bị và đối kháng phương Bắc vẫn khẳng định chủ quyền độc lập với quốc hiệu riêng (như đã nêu trên).
* Thời Pháp thuộc: Khi thực dân Pháp xâm lược và chia cắt nước ta thành ba kỳ (nằm trong liên bang Đông Dương thuộc Pháp); bọn họ dùng từ "Annam" (tiếng Pháp) để gọi riêng vùng đất Trung Kỳ(nằm dưới sự bảo hộ danh nghĩa của triều đình nhà Nguyễn). Người Pháp cũng dùng từ "Annamite" để gọi chung cho người Việt lúc bấy giờ.
2. CÓ “NHÀ NƯỚC AN NAM” KHÔNG?
* KHÔNG có nhà nước TỰ CHỦ nào mang tên này: Suốt các triều đại phong kiến độc lập từ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, chính quyền trung ương của người Việt luôn tự xưng là một triều đại chính thống với các quốc hiệu kiêu hãnh như Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Đại Nam và Việt Nam.
* Sự phản kháng của cha ông: Người Việt luôn phản kháng lại danh xưng An Nam mang tính miệt thị này.
Minh chứng rõ nhất là vào năm 1802, khi vua Gia Long thống nhất đất nước, ông đã kiên quyết gửi sứ bộ sang nhà Thanh yêu cầu đổi quốc hiệu, bác bỏ hoàn toàn tên gọi "An Nam" để thay bằng quốc hiệu mới. Sự thỏa hiệp ngoại giao sau đó đã khai sinh ra quốc hiệu Việt Nam vào năm 1804.
Tóm lại, "An Nam" chỉ là một ngoại danh (exonym) – tên có tính miệt thị do người nước ngoài dùng để gọi Việt Nam bị trị trong một thời kỳ lịch sử, chứ không phải là quốc hiệu tự chủ của nước ta.
CÓ MỘT THỨ TIẾNG GỌI LÀ “TIẾNG AN NAM” KHÔNG?!
AN NAM là ngoại danh miệt thị của ngoại bang áp đặt thì
“Tiếng An Nam" (tiếng Pháp: la langue annamite) chính là Tiếng Việt ngày nay, nhưng dưới cách gọi của ngoại bang thống trị đất nước ta thời Pháp thuộc.
Tương tự như danh xưng "An Nam", tên gọi "tiếng An Nam" không phải do người Việt tự đặt mà xuất hiện và tồn tại trong lịch sử thông qua góc nhìn của các triều đại phương Bắc và thực dân Pháp.
Khái niệm này được hiểu qua các giai đoạn lịch sử sau:
1. Thời phong kiến (Cái nhìn của phương Bắc và phương Tây)
* Từ phía Trung Hoa: Do các triều đại phong kiến nước lớn phương Bắc quen gọi nước ta là "An Nam quốc", nên họ cũng gọi ngôn ngữ của người Việt là "An Nam ngôn" hoặc "An Nam ngữ".
* Từ phía phương Tây: Khi các giáo sĩ phương Tây đến nước ta truyền đạo vào thế kỷ 17, họ sử dụng tên gọi này để học và nghiên cứu ngôn ngữ bản địa. Cuốn từ điển quốc ngữ đầu tiên của giáo sĩ Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 có tên là Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum(thường gọi là Từ điển Việt - Bồ - La), trong đó chữ "Annamiticum" có nghĩa là "tiếng An Nam".
NGƯỜI VIỆT GỌI NGÔN NGỮ NƯỚC MÌNH LÀ GÌ ?
Trong niềm tự hào đất nước quê hương, cha ông ta chưa bao giờ tự gọi tiếng mẹ đẻ của mình là "tiếng An Nam". Thay vào đó, người Việt dùng các ngôn từ thuần túy và tự hào hơn
* Tiếng Ta, tiếng mình: Cách gọi bình dân gần gũi để phân biệt với "tiếng Tây" (tiếng Pháp) hay "tiếng Tàu" (tiếng Hán).
* Tiếng Nam, Chữ Nam: Cách gọi khẳng định vị thế quốc gia độc lập ở phương Nam (đối lập với phương Bắc).
* Tiếng Việt: danh xưng "Tiếng Việt" là Quốc Ngữ chính thức được sử dụng thống nhất toàn quốc cho đến ngày nay. Môn Việt ngữ trong học đường được gọi là môn Quốc văn (VNCH)
Tóm lại, "tiếng An Nam" chỉ là một tên gọi miệt thị xưa cũ, mang tính lịch sử của một thời bị trị.
Ngày nay, AN NAM VÀ TIẾNG AN NAM này không còn được sử dụng và càng không nên tự hào nhắc nhở về nó, vì nó gợi nhớ đến thời kỳ đất nước bị đô hộ và mất chủ quyền.
Hãy gọi một cách tự hào về VIỆT NAM và VIỆT NGỮ
Mong lắm thay!
mnc
6/26

Wednesday, June 3, 2026

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG

 No photo description available.

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG
Cao Bá Quát và vua Tự Đức
Giai thoại kể rằng: Một hôm, vua Tự Đức ngẫu hứng làm được hai câu thơ luật chữ Hán có xen vào hai chữ thuần Nôm rất độc đáo:
“Viên trung hảo điểu liêu tiêu ngữ,
Dã ngoại đào hoa lác đác khai."
Có nghĩa là
Trong vườn chim đẹp hót líu riu
Ngoài đồng hoa đào nở lác đác
Vua lấy làm đắc ý nên khi thiết triều đem khoe cho đám quần thần biết tài làm thơ độc đáo của quân vương, và còn “phịa” rằng nhờ thần báo mộng nên mới sáng tác được hai câu “thần thi”.
Trong khi đám quần thần hết lời khen ngợi tâng bốc thơ vua, thì có một viên quan nhỏ là Cao Bá Quát tâu rằng đây chỉ là hai câu thực trong bài thơ cũ mà ông đã thuộc từ thuở nhỏ.
Vua Tự Đức kinh ngạc, lập tức bắt Cao Bá Quát đọc lại toàn bộ bài thơ đó và nếu không thì sẽ bị trị tội khi quân
Ung dung, Cao Chu Thần ứng khẩu đọc nguyên bài tám câu trong đó có 2 câu mà vua đã tự đắc khoe :
Vô đề
Bảo mã tây phong huếch hoác lai,
Huênh hoang nhân tự thác đề hồi.
Viên trung hảo điểu liêu tiêu ngữ,
Dã ngoại đào hoa lác đác khai.
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp,
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài.
Khù khờ thi tứ đa nhân thức,`
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài “
Bài thơ vừa xướng lên, quần thần thì thán phục, vua thì kinh ngạc tím mặt lặng người.
Trong 6 câu thơ nối điêu với 2 câu mà vua Tự Đức đã khoe kết thành bài thất ngôn bát cú hoàn hảo. Mỗi câu thơ có 2 chữ thuần Nôm xen lẫn 5 chữ Hán Việt, đọc lên ta nhận ra ngay nào “huếch hoác, huênh hoang, liêu tiêu (xiêu), lác đác, lộp bộp, bài nhài, khù khờ, khệnh khạng” toàn là tính từ thuần Việt vừa tượng thanh, tượng hình… đầy tính châm biếm “nôm na mách qué” chen vào những chữ Hán Việt trang trọng và bác học đầy ý tứ.
Thì hỏi làm sao vua không tím mặt thán phục mà không bắt bẻ gì được nhà thơ họ Cao.
Diễn nôm toàn bài là
Không đề
Huếch hoác ngựa về theo gió đưa,
Huênh hoang người cũng tự về chưa.
Trong vườn, oanh vũ khề khà hót
Ngoài nội, hoa đào lấm tấm thưa .
Lộp bộp ngày xuân sương chẳng rụng,
Trời thu chỉ thấy bài nhài mưa.
Khù khờ thi tứ nhiều người biết,
Khệnh khạng đem ra hỏi cũng thừa ?"
Bài thơ trong giai thoại này chẳng phải là thơ thần, thơ thánh gì.  Nó chỉ là 1 giai thoại về thơ ứng đối mà Cao Bá Quát dùng để châm biếm sự tự đắc, háo danh của vua chúa thời ấy. Chua cay là câu cuối “Khệnh khang tương lai vấn tú tài” có ý chê bai thơ vua vớ vẩn như vậy mà cũng khệnh khạng đem ra khoe với ông tú tài.
Vua Tự Đức biết là Cao Bá Quát bịa ra bài thơ để giễu mình, nhưng đành chịu tài "xuất khẩu thành thơ" trác tuyệt của Cao Bá Quát mà không làm gì ông được.
Giai thoại cũng cho thấy tính khí ngông nghênh, “coi trời bằng vung” của “Thánh Quát” đã đưa ông đến cảnh nổi loạn, chống lại triều đình… và kết thúc cuộc đời tài hoa khi mới 46 tuổi để lại án “tru di tam tộc” cho dòng họ.
Thương thay!
mnc
June 10