Ban Biên Tập: H K Châu, L N Hui, Ng L Hương, C Ng Cường, Ng C Lâm, Ng Đ Thắng, NTHương

Thursday, May 10, 2018

SINH NHẬT THÁNG 5




  Chúc Mừng! Chúc Mừng!
Sinh Nhật Các Tráng Sinh:

 

1. Đặng Quốc Thắng, Báo Bến Chí,   Toán Lam Sơn, 
 sinh ngày 18



2. Nguyễn Thanh Liêm,   Gà Rừng Tỉ Mỉ,   Toán Chí Linh,
 sinh ngày 21



3. Nguyễn Bá Thành, Toán Lư Sơn, 
sinh ngày 25



4. Lê Thị Thục, Toán Lư Sơn, 
sinh ngày 28




Mời các Anh Chị mở link thiệp chúc mừng sau đây:
 

Monday, May 7, 2018

Việt Nam - Vẻ đẹp dễ vỡ

Một bộ phim rất đáng xem về thiên nhiên Việt Nam và việc bảo vệ nó trước những đe dọa của con người.


Một VN  Rất Đẹp, Rất nhớ và Rất buồn!


Xin mở "Full Screen" để xem.

THẾ KỶ 20





... Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ (!?)
           Vũ hoàng Chương


Giữa muôn tinh tú nó bay bay
Hạt bụi nào bừng loé một ngày
Hiển hiện trần gian như quả lửa
Nguội dần trong vũ trụ nhiều mây

Ôi biết bao nhiêu những đổi dời
Từ đâu vi khuẩn đã ra đời
Từ đâu sự sống trườn mình thức
Và đã từ đâu xuất hiện người


Lạy đấng chí tôn đã để tôi
Bước ra trong thế kỷ hai mươi
Thời người thăm hết chiều sâu biển
Tinh tú ngoài kia đã ghé chơi
Thế kỷ hai mươi liệu đúng chăng
Chao ôi đúng lắm với thời gian
Với không gian nữa mình từng sống
Ngắn ngủi nhưng không một lỗi lầm
Hà Thúc Sinh
5-2018

Tinh thần đồng đội

Thời gian tôi sinh hoạt ở đạo Khánh hòa (1972-1975), hầu hết các Trưởng trong Đạo đều là sĩ quan thuộc các quân binh chủng nên thường xuyên thuyên chuyển, chỉ duy có một Trưởng là “lính quèn” ở tiểu khu thì cố định, nhờ vậy mà anh là người gắn bó với các đoàn sinh thời gian lâu nhất.
Vì làm Thư ký cho Đạo, nên mỗi năm đến kỳ đóng bảo hiểm cho đoàn sinh là tôi lại phải thông báo, nhắc nhở các đơn vị nộp danh sách cho kịp thời hạn. Và lần nào tôi cũng phải “nặng lời” với Trưởng “lính quèn” kia. Danh sách đóng niên liễm và bảo hiểm của đơn vị anh luôn trễ và tôi phải gởi bổ túc.
Ngày ấy, mỗi kỳ đóng niên liễm và bảo hiểm cho hội các Trưởng đơn vị thật khổ tâm, vì ngoài nhiệm vụ lo cho mình, các Trưởng còn phải “bù” cho một số đoàn sinh nghèo. Để cho đơn vị mình sớm được thừa nhận, các Trưởng sớm được bổ nhiệm. Hội chỉ có thể đánh giá một đơn vị qua bản báo cáo có kèm danh sách đoàn sinh đã đóng niên liễm.
Khi thuyên chuyển khỏi Nhatrang, đến chào Trưởng “lính quèn” tôi mới khám phá ra một sự thật đau lòng: Trưởng có 7 đứa con và một mẹ già, trong căn nhà tồi tàn ở gần cuối con hẻm nhỏ. Đôi mắt tôi bỗng cay xè khi nhớ lại những lần tôi phê phán trách móc “nặng lời” với anh, một người đã tự nguyện hy sinh thời gian và tiền bạc eo hẹp của mình cho phong trào.
Điều tôi muốn nói là sự thông cảm, hiểu biết và nâng đỡ nhau giữa các Trưởng, những người cùng chung “một đường lên”. Chúng ta mang trong mình sứ mạng cao cả giáo dục các em có bổn phận coi nhau “như anh em ruột thịt”, thì nhất định cái bổn phận này của chúng ta phải “cao hơn” các em đoàn sinh của mình.
Gần đây, có nhiều ý kiến phê bình, chỉ trich và lên án các Trưởng đang sinh hoạt trong phong trào Hướng đạo. Những ý kiến này không phải hoàn toàn dở vì nó xuất phát từ các Trưởng đã hoặc đang sinh hoạt. Nhưng đôi khi nó đi quá giới hạn của mục đích xây dựng và biến thành phá hoại. Cũng như quà cáp biếu xén vốn là tốt đẹp để tỏ lòng biết ơn hay trân trọng tình bạn, nhưng nếu nó vượt “quá mức bình thường” thì đó là tham nhũng và hối lộ.
Bố tôi mất khi mới 23 tuổi, nhưng ông có nhiều bạn bè, đồng nghiệp và đồng chí. Lúc nhỏ tôi thấy thỉnh thoảng có bạn cũ của bố ghé thăm, họ kể những kỷ niệm về bố, nhưng lần nào cũng thấy mẹ tôi rất lạnh nhạt. Sau này khi đã “có trí khôn” tôi mới thắc mắc, thì mẹ giải thích: Bạn bè gì cái thứ mà bạn chết không đứa nào biết mộ nó nằm ở đâu?
Rồi mẹ dặn dò: Tổ chức nào cũng có cái hay cái dở, lúc thịnh lúc suy, con tham gia cái nào cũng được. Nhưng nếu thấy tổ chức ấy thiếu tình anh em thì hãy dứt bỏ ngay, không hối hận và đừng luyến tiếc.
Cáo lãng tử Bùi Năng Phán


Wednesday, May 2, 2018

Mậu Thân, Bốn Mươi Năm, Nhớ...

    Bài này Truởng Sóc Vui Vẻ Nguyễn Đức Lập viết cách nay 10 năm đăng trong Đặc San HĐVN năm 2008 , 40  năm Biến cố Tết Mậu Thân 1968. Trưởng Nguyễn Đức Lập đã lìa rừng năm 2016 tại Manvel Texas. Chúng tôi xin đăng lại bài viết này nhân 50 năm Biến Cố Tết Mậu Thân (1968-2018) 

Mậu Thân, Bốn Mươi Năm, Nhớ...
Nguyễn Đức Lập

Khi tôi đặt bút viết bài nầy thì miền Nam Cailifornia đang mịt mùng khói lửa.
Cơn gió Santa Ana độc hại, kéo dài, giựt từng hồi, bẻ cành tuột lá, là nguyên nhơn của những trận hỏa họan khắp nơi. Tình trạng khẩn cấp đã được loan báo trên các quận Santa Barbara, Ventura, Los Angeles, San Bernadino, Riverside và San Diego.
Theo dõi các trận cháy, có nhà cửa bị thiêu hủy, có người đi lánh nạn, trên màn ảnh vô tuyến truyền hình, suốt gần hai ngày, tôi không thấy có bộ đồng phục Hướng Đạo nào xuất hiện để giúp đỡ mọi người.
Đó là sự khác biệt giữa sinh hoạt Hướng Đạo tại Hoa Kỳ và tại Việt Nam.
Tại Việt Nam trước đây, mỗi khi có một đám cháy xảy ra, các Hướng Đạo Sinh bao giờ cũng có mặt rất sớm, thường là trước cả lính Cứu Hỏa. Người ta thường nói: “mau như xe chữa lửa”, nhưng các Hướng Đạo Sinh còn mau hơn. Những Hướng Đạo Sinh chạy đến đám cháy, có người kịp mặc đồng phục, có người chỉ tròng cái khăn quàng vào cổ...

“Giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào, một cách vô vị lợi”, vốn là một điều luật của Hướng Đạo Việt Nam mà. Từ thuở Sói Con đã được dạy là phải “nghĩ đến người khác trước”, Thiếu Sinh thì “mỗi ngày làm một việc thiện”, Tráng Sinh thì “giúp ích”, châm ngôn “Giúp Ích” được viết bằng màu đỏ, với hàm ý “giúp ích cho dù phải đổ máu”, các Hướng Đạo Sinh luôn luôn “Sắp Sẵn”, mau mắn có mặt ở tất cả nơi chốn cần đến sự giúp đỡ.
Đến đây, chợt nhớ đến Mậu Thân, là năm mà dân Sài Gòn, dân các thị xã, tỉnh lỵ trực tiếp đối diện với chiến tranh và cũng là năm Hướng Đạo Sinh Việt Nam chứng tỏ khả năng giúp ích một cách hữu hiệu trong bất cứ hoàn cảnh nào, môi trường nào.
Dân Sài Gòn và các vùng ngoại ô phụ cận, từ sau cuộc giao tranh khốc liệt giữa Quân đội Quốc Gia trung thành với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và lực lượng Bình Xuyên, dưới sự lãnh đạo của Tướng Lê Văn Viễn, thường được biết dưới tên là Bảy Viễn, vào năm 1954, đã có một cuộc sống bình yên, không phải trực diện với chiến tranh...
Mậu Thân, 1968, cách nay vừa tròn bốn mươi năm, ngay đêm ba mươi rạng sáng mồng một tết Nguyên Đán, Quân đội cộng sản không tôn trọng thỏa ước ngưng bắn ba ngày để cho nhơn dân ăn tết, đã đồng loại mở các cuộc tấn công vào Sài Gòn và các thị xã, tỉnh lỵ trên toàn quốc. Khói lửa lan tràn khắp nơi, ở đâu cũng có nhà cháy, người chết...
Sau một thời gian ngắn với nhiều bỡ ngỡ, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mở các cuộc phản công. Nhiều vùng đông đúc dân cư, đời sống đang yên bình, bỗng trở thành bãi chiến trường, dân chúng kéo nhau chạy đi lánh nạn...
Riêng tại Sài Gòn, ngay từ ngày mồng hai tết, dân chạy loạn đã nằm đầy các lề đường vùng Bà Chiểu, Phú Nhuận, Bảy Hiền, Ông Tạ... Sau đó, họ đổ xô vào các trường học, nhứt là các trường tiểu học, dùng làm chỗ tạm trú.
Các địa điểm nầy biến thành các Trại Tiếp Cư.
Phải nói rằng, ngay những lúc đầu tiên đó, hiện diện để giúp đỡ cho đồng bào, tại các trại tiếp cư đó, chỉ có anh chị em Hướng Đạo.
Các công chức thuộc các ngành Xã Hội, Y Tế, Vệ Sinh... còn đang nghỉ Tết.
Các Hướng Đạo Sinh, không có theo một cái lịnh điều động trực tiếp nào hết, từ Hội, từ Bộ Tổng Ủy Viên, hay từ Đạo. Người nào ở gần bất cứ nơi nào có đồng bào cần giúp đỡ thì tự động mặc đồng phục, chạy ra giúp. Có nơi, họ qui tụ được một Đội, một Tuần. Có nơi, chỉ có hai, ba người. Họ đảm nhận mọi công tác, từ cứu thương, phát thuốc, đến sắp đặt chỗ ở, dọn dẹp vệ sinh, nghĩa là làm tất cả những việc gì cần thiết để tạm làm yên lòng đồng bào đang gặp cảnh bất hạnh...
Rồi, các hội đoàn, các tổ chức từ thiện, tôn giáo cũng đưa người đến các trại tiếp cư. Tự động, họ đứng ra tổ chức ban điều hành, có chủ tịch, có các trưởng ban. Họ tìm đến các cơ sở tôn giáo của người ngoại quốc như World Vision, Caritas để xin các phẩm vật cứu trợ như thực phẩm, thuốc men, áo quần cũ.
Các ban điều hành trại, tuy cùng một nhóm, một tổ chức, nhưng chín người mười ý, trong lúc làm việc, thường có những va chạm, đôi khi không tránh được cãi vã giận hờn...
Đến đây mới thấy được tinh thần làm việc của anh chị em Hướng Đạo. Họ không đứng vào các ban điều hành. Với đôi bàn tay và trái tim, họ đến các trại tiếp cư để phục vụ cho đồng bào. Mục đích của họ là những nạn nhơn chiến tranh khốn khổ, có người mất cả cơ nghiệp, có người mang thương tích trên mình... các Hướng Đạo Sinh đứng bên ngoài tất cả các sự va chạm, mà họ cho là không cần thiết.
Đáng lẽ phải là những người có mặt sớm nhứt ở các trại tiếp cư, các nhân viên của Bộ, của các Ty Xã Hội lại là những người đến sau cùng. Họ là những công chức và đến làm việc với tinh thần công chức, đúng giờ thì đến, hết giờ thì về...
Trong những biến động chiến sự vào những ngày đầu năm Mậu Thân, các Hướng Đạo Sinh không chỉ có mặt ở các trại tiếp cư. Các Trưởng, các Hướng Đạo Sinh, đặc biệt là các Kha, Sinh, hiện diện khắp nơi, đảm nhận nhiều công tác khác nhau.
Hình ảnh đăng trên báo chí Sài Gòn thời đó cho thấy: những Kha Sinh đang di tản những thương binh, những thường dân bị thương, ngay sát mặt trận (khi làm công tác này tại mặt trận Thị Nghè, một Kha Sinh bị gãy chân vì đạn B-40); những Sói Con, Chim Non, dưới sự hướng dẫn của các Trưởng, đã đi vào những khu xóm an toàn để quyên góp những phẩm vật cứu trợ, những Tráng Sinh, Kha Sinh lo cất những dãy trại trong khu Thành Petrus Ký, để làm nơi tạm trú lâu dài cho các nạn nhân... (viết đến đây, nhớ Nguyễn Văn Thuất).
Tình hình cứu nạn, cứu trợ vừa hơi êm êm, quân đội cộng sản lại mở cuộc tấn công đợt hai vào Sài Gòn, vào những ngày tháng Năm. Lần nầy, các nơi dân chúng bị ảnh hưởng nặng là vùng Cây Quéo, Bà Quẹo, Phú Thọ Hòa, Chánh Hưng, Cầu Chữ Y. Đồng bào ở những vùng đó cũng phải chạy vào trung tâm thành phố để lánh nạn. Và, một lần nữa, các Hướng Đạo Sinh lại mau mắn có mặt ở các nơi cần cứu giúp. Cộng sản lại pháo kích vào thành phố. Các bịnh viện công như Bịnh Viện Sài Gòn, Bịnh Viện Chợ Rẫy, Bịnh Viện Nguyễn Văn Học đều đầy ấp đồng bào bị thương, nhà xác nào cũng đầy xác chết... Các Tráng Sinh, Kha Sinh tình nguyện ngủ đêm tại các bịnh viện để trợ giúp cho các y công, y tá tiếp nhận, di chuyển, cấp cứu các người bị thương.
Thời gian trôi qua nhanh quá. Những Sói Con của thời Mậu Thân, bây giờ, đã trên dưới năm mươi tuổi hết rồi. Nói chi đến những Kha, Tráng Sinh.
Các Hướng Đạo Sinh đã có tham gia vào những công tác giúp ích, cứu trợ vào thời gian đó, hẳn mỗi người đều còn giữ trong lòng vài kỷ niệm đáng nhớ..
Riêng tôi, tôi nhớ rất nhiều.
Nhớ nhứt là Bùi Quang Minh, Thiếu Sinh Vạn Kiếp từ thuở còn mặc áo nâu và là Toán Trưởng Toán Hồng Hà. Gần một tháng liền, trong thời gian cộng sản pháo kích vào Sài Gòn, đêm nào Minh cũng hướng dẫn cả toán đến ngủ tại Bịnh Viện Đô Thành để phụ giúp cho các nhân viên bịnh viện mỗi khi có người bị thương đưa vô cấp cứu. Tại đây, có lần Trưởng Lê Gia Mô đã đến làm Lễ Tĩnh Tâm và Tuyên Hứa cho ba Tân Tráng. Một hôm, cộng sản pháo kích vào thành phố vào lúc bảy giờ sáng, giờ mà dân chúng đổ ra đường để đi làm, đi chợ. Lúc ấy, toán Tráng đang sắp sửa đi về. Nghe đạn pháo kích bay xè xè và nổ tứ tung, Minh bảo anh em ở lại. Chỉ không đầy mười phút sau, bịnh viện tràn ngập các nạn nhơn cần cấp cứu. Nhìn vào đâu cũng thấy máu me, nhiều người đã chết khi đưa đến bịnh viện. Vào giờ đó, bịnh viện chưa đổi ca, hiện diện làm việc chỉ có một bác sĩ và chưa đầy mười y tá, y công trực đêm. Cả toán Tráng xăn tay áo, lăn vào... Gần mười hai giờ trưa, áo quần dính đầy cả máu, Hoàng Cơ Môn, với bộ quần áo đầy máu, đi bộ về nhà. Minh cười tôi và Nguyễn Khắc Hùng Lập vì có lúc hai đứa tôi mất bình tĩnh khi nghe nạn nhơn rên siết, kêu la... Mấy tháng sau, Minh vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và anh đã đền nợ nước sau khi mãn khóa chưa đầy hai tháng...
Nhớ Đức “nhi đồng”, Nguyễn Minh Đức, còn có tên là Đức “cạp”. Sở dĩ có tên nầy là vì một hôm Đức chở tôi đi bằng xe gắn máy, tới gần ngã ba Yên Đỗ và Hai Bà Trưng, mãi lo nói chuyện, không để ý một phụ nữ băng qua đường. Tôi thấy, la lên, Đức thắng xe gấp. Bánh xe trước quẹt vào chưn bà và khiến bà ta bị té ngồi xuống. Sau khi hoàn hồn, đỡ bà ta đứng dậy, tôi ngạc nhiên khi thấy một dòng máu từ trán bà ta đang chảy dài xuống. Cái gì kỳ vậy? Sau khi lấy băng cá nhơn băng vết thương ở trán của người phụ nữ, tôi và Đức năn nỉ, xin lỗi bà ta. Rốt cuộc rồi bà cũng tha thứ, bỏ qua. Lên xe, tiếp tục đi, tôi đem cái thắc mắc về vết thương của người phụ nữa ra hỏi Đức. Và, Đức trả lời rằng khi thẳng gấp, người Đức bị giật chồm ra phía trước và hàm răng trên của Đức đã cạp vào trán của bà ta, nên mới ra cớ sự. Cái chuyện gây ra thương tích một cách hy hữu nầy loan truyền trong chúng bạn, dĩ nhiên là do cái miệng của tôi. Chuyện vui quá mà, không phổ biến rộng rãi đâu có được và Đức “nhi đồng” trở thành Đức “cạp” từ đó... Đức vào quân đội và được đưa ra miền Trung. Lần cuối cùng tôi gặp Đức là vào khoảng vài tháng trước khi miền Nam thất thủ. Hơn ba mươi năm, mặc cho tôi tìm kiếm, dò hỏi, tin tức về Đức vẫn biền biệt...
Đặt thêm cái tên cho Đức, hết “nhi đồng” rồi tới “cạp” là Quan “nhô”. Tánh nhi nhô, nhưng Quan đã lập nên “kỳ tích” hồi Mậu Thân. Lúc ấy, toán Tráng đang đi sâu vào một xóm nhỏ ở Phú Thọ Hòa, để tìm đem những người bị thương ra khỏi vùng đang giao tranh. Tại một ngôi chùa lụp xụp, nằm ở một góc hẻo lánh nhứt của xóm, chúng tôi phát giác ra một phụ nữ đang nằm rên rĩ bên hông chùa. Bà ta bị một viên đạn nơi thắt lưng. Bà ta rên siết vì vết thương và vì bà ta đang chuyển bụng, sắp sanh. Đây là một tình huống mà chúng tôi không bao giờ tưởng tượng được. Chúng tôi nhìn nhau bối rối. Sau cùng thì Quan tình nguyện giúp cho người phụ nữ trong cơn “vượt cạn” nầy. Quan đuổi chúng tôi đi chỗ khác hết. Chúng tôi vẫn lo lắng vì Quan học năm thứ ba khoa Dược, chứ đâu phải học Y. Vậy mà Quan đã hoàn thành công tác một cách xuất sắc, đỡ đẻ cho người phụ nữ được mẹ tròn con vuông. Một lúc sau, có một đơn vị Nhảy Dù đến và những y tá của đơn vị nầy đã chuyển mẹ con người phụ nữ nầy đến bịnh viện. Quan “nhô” Nguyễn Phước Quan hiện đang hành nghề dược sĩ tại Orange County, California. Từ đó đến nay, anh không nhắc lại chuyện anh đã từng làm cô mụ bất đắc dĩ một lần nào...
Một kỷ niệm nữa mà tôi cũng rất nhớ. Hôm ấy, chúng tôi tụ tập ở chân Cầu Chữ Y. Mỗi người có đeo túi cứu thương và cầm cờ trắng có dấu thập đỏ trên tay. Đang có một cuộc giao tranh dữ dội bên Chánh Hưng. Khói do nhà cháy tỏa lên mù mịt, lan qua tới tận bên nầy cầu, nơi tôi đang đứng. Tiếng súng chợt im, những người dân, tự nãy giờ, núp ở đâu đó bên kia cầu, xuất hiện, chạy ào ào về phía chúng tôi. Họ cho biết rằng có nhiều người còn bị kẹt bên kia lắm, có nhiều người bị thương lắm, không thể chạy được. Thế là chúng tôi mau mắn, phóng ngược lại dòng người chạy nạn, nhắm về phía bên kia cầu.
Qua khỏi dốc cầu, gần xuống tới chân cầu bên kia, đạn lại nổ chát chúa. Dân chạy nạn tản ra, nép sát vào thành cầu, cố mọp người xuống. Quang cảnh lúc đó thật là hỗn loạn. Những người lính Cảnh Sát Dã Chiến vừa kêu, vừa khoát tay, gọi chúng tôi trở lại. Các anh ấy nói đi nói lại: “Bộ muốn chết sao?”
Chúng tôi lại chạy về phía dốc cầu bên nầy. Tạm ngồi yên rồi, hơi thở bớt dồn dập rồi, chúng tôi nhìn nhau, hoảng hồn vì thấy thiếu mất Võ “Hố Nai”, Đỗ Văn Võ. Trên mặt cầu vắng tanh, chỉ còn các anh Cảnh Sát Dã Chiến đang cố thủ sau các bức thành thấp làm bằng bao cát. Súng vẫn nổ dồn dập rồi mười lăm phút, hai mươi phút trôi qua, vẫn không thấy Võ đâu. Hơn nửa tiếng đồng hồ sau, tiếng súng im. Dân chúng bên kia cầu lại xuất hiện, chạy ào qua cầu. Cũng không thấy Võ. Một lúc sau, có một bà già thất thiểu chạy qua, trên vai bà đeo túi cứu thương của Võ, tay bà cầm lá cờ Hồng Thập Tự của Võ. Chúng tôi chạy đến, vừa đỡ bà già, vừa hỏi chủ nhơn của túi xách đó, lá cờ đó, hiện đang ở đâu. Bà già, làm như mất hồn vía, ngó quanh ngó quất, rồi chợt khóc òa lên, như cha chết, mẹ chết. Tôi cảm thấy chấn động cả người, bủn rủn cả tay chân. Đầu tôi nghĩ liền tới cảnh Võ bị thương, hoặc chết rồi, nằm đâu đó, ở bên kia cầu. Những Tráng Sinh khác, chắc cũng nghĩ như tôi, nên mặt anh nào cũng thất sắc. Chúng tôi nhắm phía bên kia cầu mà chạy, nhưng bị mấy anh Cảnh Sát Dã Chiến chận lại “Bộ muốn chết hay sao?”... Chúng tôi bồn chồn, lo lắng và không đứa nào dám nói lên ý tưởng đang xáo trộn trong đầu...
Mãi đến hơn mười lăm phút sau mới thấy Võ xuất hiện, lê những bước chân mệt nhọc lên cầu, trên vai Võ là một cây đòn gánh cong vòng, hai cái thúng ở hai đầu, chất đầy đồ đạt, oằn gần chấm đất. Quan “nhô”, Đức “cạp”, cả tôi nữa, reo lên mừng rỡ, làm như thằng bạn mình đang chết bỗng sống lại. Đức chạy tới tính thay Võ gánh đôi thúng. Nhưng Võ khoát tay ra dấu không cho. Bà già nín khóc, vui ngay trên nét mặt khi Võ đặt cái gánh xuống cạnh bà và nằm dài ra trên mặt đường nhựa, thở không ra hơi. Thì ra, Võ nhanh chân hơn chúng tôi, chạy nhanh vào trong xóm, gặp bà già đang gánh đôi thúng nặng. Võ trao túi cứu thương và lá cờ cho bà già, và gánh giúp bà già. Kế, súng nổ liên tục, bà già quýnh quíu tìm một chỗ núp khác. Khi ngớt tiếng súng, bà già chạy trước qua cầu, không thấy Võ, tưởng rằng bao nhiêu gia tài sự sản chất trong hai cái thúng đã mất hết rồi, trong khi Võ đang è cổ, bước từng bước một, vì hai cái thúng quá nặng...
Nhớ, còn nhớ nhiều thứ lắm, những kỷ niệm của một thời sanh hoạt “giúp ích” đầy lý tưởng, làm cho cuộc sống của người thanh niên đáng sống hơn, có ý nghĩa hơn. Những người bạn Tráng Sinh, bạn Đường, thuở đó, nay có người đã nằm xuống, có người đã biệt âm vô tín, những người còn gặp được đầu đã bạc đầu…

Sanh hoạt Hướng Đạo ở hải ngoại bây giờ thật khác với hồi xưa ở Việt Nam. Các Hướng Đạo Sinh ở hải ngoại rất hiếm hoi môi trường và cơ hội để làm việc thiện, chưa kể đến luật lệ xã hội ràng buộc, hạn chế. Việt Nam ngày trước là một nước chiến tranh, lại nghèo nàn, nên bước chưn ra đường, các Hướng Đạo Sinh gặp ngay cơ hội và môi trường để làm việc thiện, để giúp ích…

Sóc Vui Vẻ Nguyễn Đức Lập 

Source : Đặc San Hướng Đạo Việt Nam, 2008.


Tuesday, May 1, 2018

VƯỢT BIÊN - Hồi ức - Trần Ngọc Toàn


Ghi chú: Nhân 43 năm Biến Cố 30/4, chúng tôi đăng lại Hồi Ức về những  tháng ngày dài tù đày và vượt biên của Trưởng Trần Ngọc Toàn - Cọp Biển Can Trường, nguyên TĐT Tiểu Đoàn 4 TQLC của QLVNCH


Bài của Trần Ngọc Toàn 

 Từ Trại Tù Cải tạo số 3 Tân Kỳ, ở vùng núi Nghệ Tĩnh, năm 1981, tôi được chuyển về Nam với gần 300 người cùng số phận trên một chuyến xe lửa. Ở Trại Tù Hàm Tân đến ngày 22 tháng 3 năm 1984, tôi được lệnh thả về nhờ sự xoay sở của gia đình. Đáng lý, tôi phải chịu thêm “Một lệnh tập trung cải tạo 3 năm” nữa mới hy vọng ra khỏi Trại giam theo tiêu chuẩn của Việt Cộng. Năm 1978, khi còn ở Trại tù ở Hoàng Liên Sơn, trong lá thư đầu tiên được gởi về cho gia đình, tôi tự thấy không có ngày về nên đã nhắn với gia đình tìm cách vượt biên bằng câu: “Hãy đi khu kinh tế mới với bà chị của tôi”. Trong khi bà chị đã sang Mỹ từ năm 1969. Sau đó bẵng đi cả năm sau tôi mới được tin vợ con tôi đã vượt biên và định cư tại Virginia, với bà chị của tôi, năm 1979. Đứa con gái lớn của tôi mới 10 tuổi và đứa em vừa 5 tuổi.
Tính ra tôi ở tù Cộng sản gần trọn 9 năm với 5 năm ngoài Bắc và 4 năm trong Nam. Giấy Ra Trại buộc tôi phải trở về Đà Lạt với cha tôi vì gia đình tôi ở Sài Gòn đã vượt biên từ năm 1978. Tôi phải quay về Đà Lạt để thăm gia đình. Ba tôi xoay sở cho tôi chứng nhận của Công An là tôi đã rời khỏi nơi địa chỉ này từ năm 1963 để tôi quay về lại Sài Gòn tìm cách vượt biên. Tôi chưa có quyền công dân và còn chịu chế độ quản chế của Công an ít nhất 6 tháng. Hằng ngày, tôi phải mang cuốn tập giấy 100 trang vào trình diện Công An khu vực với tường trình đã làm việc gì trong một ngày đó.
Hai tháng sau ngày ra tù, số phận đẩy đưa. Một hôm, trên đường đạp chiếc xe mượn được quanh thành phố Sài gòn tìm thăm bạn bè, chợt một người trung niên với nước da ngâm đen và gương mặt “bụi đời” xắn ngang trước đầu xe tôi, ngay trên đường phố Phan Thanh Giản. Khi tôi còn ngạc nhiên chưa biết chuyện gì, chàng ta cười như đắc thắng và nói:– “Ông không biết tôi là ai đâu. Nhưng tôi biết ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 TQLC”. Vẫn bình tĩnh tôi im lặng chờ. Anh ta vui vẻ xuống xe nói:– “Ghé vô sạp cà phê bên này rồi nói chuyện tiếp”. Sau đó, anh ta tự giới thiệu là một Thượng sĩ trong Trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tàu, đối diện với Hậu cứ của Tiểu đoàn 4 TQLC, đã biết và nghe nhiều chuyện về tôi lúc còn làm Tiểu đoàn trưởng. Chuyện trò dần dà đến khi tôi nhận ra anh là “Phe ta” tôi mới thú thật tôi đang tìm đường vượt biên vì gia đình đang ở Mỹ. Lúc ấy, anh ta mới cho tôi tên và địa chỉ của người chị ruột để liên lạc theo chân vượt biên. Lo ngại tôi bị bắt khi đến những nơi nằm chờ, anh ta hứa sẽ đưa tôi thẳng xuống ghe lớn. Tôi phải ra chợ tìm mua 1 bộ quần áo công nhân màu xanh của Miền Bắc. Về sau này, tôi mới được biết ông Thượng sĩ TSQ này có cậu ruột làm Quận Ủy Quận 4 đã đứng ra tổ chức vượt biên. Tôi không tìm hiểu thêm nhưng đã cảm nhận được tình cảm chân thành của một chiến hữu xuất thân từ Thiếu Sinh Quân đối với tôi.

Vào một buổi chiều, ngày 30 tháng 4 năm 1984, vào khoảng 7 giờ tối, đột nhiên anh ta xuất hiện và hối thúc tôi mang túi nhỏ hành trang leo lên chiếc xe gắn máy Honda chỉ trong vòng 5 phút. Tôi đã chuẩn bị tất cả và luôn ở trong tư thế “Sắp Sẵn” của một Hướng Đạo Sinh. Anh này chở tôi chạy vùn vụt trong cảnh Sài gòn còn nhá nhem vì thiếu điện. Dù đi đâu tôi cũng quan sát kỹ. Anh ta vượt qua cầu Trịnh Minh Thế lên đường chạy dọc theo Thương cảng Sài Gòn. Vừa vượt qua cầu Tân Thuận, xe rẽ tay mặt rồi chạy thẳng vào một chiếc tàu sắt loại chở hàng duyên hải. Không nói gì nhiều, anh ta ngoắc tôi đi theo xuống tàu, bước thẳng vào buồng máy và nói lớn với một người được xem là thợ máy tàu:– “Anh này là công nhân của tàu. Mấy anh sắp đặt cho ông ta”. Thế là anh quay ngoắt người bỏ đi để tôi không kịp chào hay cám ơn nữa. Tôi được biết anh thợ máy nguyên là Hạ Sĩ Quan Hải Quân phục vụ trong Giang đoàn. Chủ tàu có con trai trước 75 đi lính địa phương quân cùng vượt biên với vợ, mang theo 1 khẩu súng M16 dấu lại sau ngày 30 tháng 4. Nhóm tổ chức vượt biên gồm Việt võ đường và gia đình của họ. Tôi một mình đơn chiếc liều thân đánh một canh bạc “Nhất chín nhì bù”. Với ngoài 40 tuổi đời, tôi biết mình không thể sống nổi dưới chế độ Cộng sản bạo tàn. Vợ con đã vượt biên qua Mỹ từ đầu năm 1979. Anh Thượng sĩ TSQ này đã cho tôi đi với giá 3 cây vàng nhưng không phải đóng trước một đồng nào. Khi qua tới đảo gia đình mới trả tiền. Em gái của tôi bên Pháp đã gởi tiền về nuôi tôi sau ngày ra tù. Nhưng cô ấy nhất quyết không cho tôi vượt biên vì sợ nguy hiểm. Dù vậy tôi cũng nhất quyết ra đi bởi cuộc sống chẳng còn ý nghĩa gì sau ngày nước mất nhà tan.
Trong túi xách tay nhỏ, tôi mang theo 2 bộ đồ lót, chiếc quần Jean còn sót lại sau ngày du học Hoa Kỳ trở về năm 73, một mảnh giấy mang lý lịch trên tập sách kỷ niệm sau ngày tốt nghiệp khóa Chỉ Huy và Tham Mưu của TQLC Hoa Kỳ, tại Quantico, và tờ Giấy Ra Trại với TỘI DANH là Tiểu đoàn trưởng TĐ4 TQLC Ngụy. Tôi gặp nhiều rắc rối với tội danh này khi về trình diện địa phương. Nhưng ở Trại Tạm Cư vượt biên đây là một bằng chứng cụ thể nhất để xin đi định cư ở Hoa Kỳ. Dù vậy tôi cũng chuẩn bị cho mình một lý lịch giả lấy tên của một người anh chú bác đã chạy sang Mỹ từ năm 1975 để ngừa trường hợp bị bắt lại. Sau gần 9 năm tù cải tạo trở về, tôi gầy nhom. Mấy tháng ra tù cũng chẳng phục hồi được bao nhiêu vì chẳng khác nào từ nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn. Loay hoay phụ dọn dẹp dưới tàu đến khoảng sau 10 giờ đêm tôi nghe họ nhổ neo rời bến. Bỗng dưng, trong giờ phút ấy lòng tôi chợt òa lên nỗi buồn đau thắt vì từ nay không biết đến bao giờ mới trở lại quê hương. Quê hương mà chính tôi cũng đã đổ máu xương để bảo vệ. Quê hương với bao người thân, với những mảnh đất thân yêu suốt trên những chặng đường hành quân ngày nào, từ mũi Cà Mâu ra tận Gio Linh, Quảng Trị. Quê hương với thành phố Đà Lạt sương mù đầy thơ mộng nơi tôi được sinh ra và lớn lên.
Chính vì tình quê hương ấy đã thúc đẩy tôi vội vã rời Trường Chỉ Huy và Tham Mưu của TQLC Hoa Kỳ tại Quantico, Virginia trở về với cuộc chiến ngày càng tàn khốc, trên khắp mọi nẻo đường quê hương. Bây giờ đã 10 năm sau ngày vội vã tìm đường trở về từ Hoa Kỳ, tôi phải lìa bỏ ra đi để tìm lại gia đình và tìm lại bản thân của mình, sau những năm dài chinh chiến, sau những năm tháng tù tội khủng khiếp. Những điều về chủ tàu và nhóm người vượt biên mãi vài năm sau ngày định cư ở Virginia, tôi mới được biết. Từ ngày đặt chân xuống tàu ra đi tôi chẳng quen biết một ai và cũng muốn giữ kín lý lịch để ngừa trường hợp bị VC bắt lại. Chiếc tàu rời bến lặng lẽ trong đêm. Không một ánh đèn. Đến khoảng 10 giờ đêm, chợt nghe tiếng người lao xao kèm theo tiếng động dội trên thành tàu. Tôi nghe tiếng người hối thúc:– “Chạy ra đón người từ ghe nhỏ lên tàu”. Trong bóng tối đen như mực, tôi nhào người ra boong tàu vừa lúc người và đồ vật lao xuống từ thành tàu. Tội vội đưa tay ra đỡ. Không nhìn ra được ai là ai.Tuy hỗn loạn nhưng không ai dám lớn tiếng. Cả hai bên bờ thành tàu đều có người nhảy xuống trong đêm tối. Chiếc tàu vẫn chạy với tốc độ chậm trên sông Sài Gòn. Tất cả những lao xao, hỗn loạn chợt ngưng hẳn sau độ nửa giờ đồng hồ trôi qua. Tôi mò trở về góc tạm trú dưới buồng máy tự dỗ mình vào một giấc ngủ. Vốn xuất thân là một người lính Thủy Quân Lục Chiến nên tôi rất quen thuộc với những chuyến hành quân đổ bộ trên tàu. Năm 1971, tôi cũng đã có dịp xuống thực tập dưới một chiếc tàu ngầm nguyên tử của Mỹ ở Okinawa. Năm 1972, tôi cũng có dịp làm sĩ quan Liên lạc trên Hàng Không Mẫu Hạm Entrerprise của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Bây giờ vượt biên trên một chiếc tàu chở hàng nhỏ với hơn 50 người.
Thiếp đi một giấc đến sáng, tôi bò lên boong tàu xem xét thì thấy mình đang ở giữa biển cả mênh mông. Nghe tài công nói tàu chưa ra ngoài vùng biển quốc tế. Tàu còn có thể bị truy nã và bắt quay về Vũng Tàu. Tôi cũng chẳng bận tâm mà để mặc cho số phận. Trời trong sáng và biển lặng êm. Tàu chạy khá nhanh so với tàu đổ bộ LCU của Hải Quân Cộng Hòa. Tôi tìm một góc vắng trên boong tàu và dõi mắt quan sát. Như thế là tàu đang chạy về hướng Nam. Nếu tàu chạy xa đất liền chắc sẽ gặp một hòn đảo Nam Dương hoặc Mã Lai. Ngược lại, sát vào duyên hải độ vài hải lý thế nào tàu cũng phải gặp Hòn Khoai hay Phú Quốc. Tuy Hải Quân của Việt Cộng lúc ấy rất yếu nhưng chúng có thể dùng ghe đánh cá với trang bị AK47 và thượng liên để khống chế được. Những ý tưởng này chỉ nằm trong đầu của tôi vì tôi chẳng có tư cách gì trên tàu và cũng muốn che giấu lý lịch của mình khi thấy còn trong tầm tay của VC. Quả thực, sau một ngày và một đêm ngoài biển cả, sáng sớm hôm sau có nhiều người la lớn:– “Đất liền! Đất liền”. Khi chạy lên boong, nhìn về phía Đông, tôi thấy khoảng 3, 4 chiếc ghe đánh cá đang dàn hàng ngang nhắm chiếc tàu xông tới. Rồi có người la lớn:– “Ghe VC! Đổi hướng chạy mau!”. Lập tức, chiếc tàu quay hướng ngược lại chạy hết tốc lực. Một thời gian ngắn đoàn ghe đánh cá biến mất ở cuối mặt biển chân trời. Ai nấy thở phào, mừng rỡ. Tàu tiếp tục chạy suốt ngày thứ ba cho đến gần nửa đêm mới ngừng máy khi thấy một giàn khoan dầu trước mặt. Nghe nói nhóm tổ chức vượt biên quyết định chạy tiếp.
Trời vừa rạng hừng đông, bất chợt tàu ngừng hẳn giữa biển cả mênh mông. Nghe nói máy tàu bị hư và còn rất ít dầu. Có vài chiếc tàu buôn đại dương lớn chạy ngang trong tầm mắt. Cả tàu, già trẻ lớn bé xô nhau lên trên boong kêu la và phất khăn áo trắng cầu cứu. Chẳng thấy có một chút quan tâm. Tôi biết mình đã đến hải phận quốc tế. Nhìn quanh chỉ thấy biển cả chênh vênh. Đã quen chịu đựng những năm tháng đói dài trong 5 năm tù ngoài Bắc nên tôi không nghĩ gì ngoài việc tìm lối thoát dù đang bị kẹt cứng trên chiếc tàu chết máy. Mãi đến khi mặt trời đứng bóng, chợt một chiếc tàu buôn mang cờ Nam Dương xuất từ hướng Đông chạy tới trong tiếng reo hò mừng vui của người vượt biên trên tàu.
Chiếc tàu đại dương khổng lồ cặp sát bên hông chiếc tàu hỏng máy. Nhiều tiếng người la lớn réo gọi:– “Ai nói được tiếng Anh lên gấp”. Tôi chen chân chạy lên. Từ trên bờ thành cao, một người tay cầm loa nói xuống:– “Các anh cần gì. Tôi muốn gặp người nói tiếng Anh”. Tôi vừa đưa tay cao lên vừa nói lớn:– “Tôi đây. Chúng tôi lánh nạn CS Việt Nam. Tàu bị hư máy và thiếu mọi thứ”. Trên loa có tiếng đáp xuống:– “Tôi là thuyền trưởng hải dương hạm Nam Dương. Chính phủ tôi không có chính sách cứu người vượt biên từ Việt Nam. Nhưng chúng tôi sẵn sàng giúp các anh. Tôi sẽ cho thợ máy xuống giúp sửa máy và cho một ít tiếp liệu. Từ đây, các anh chỉ cần chạy theo hướng……… độ 3 tiếng đồng hồ sẽ đến hòn đảo gần nhất của Nam Dương”. Tôi đáp:– “Xin cám ơn quý vị rất nhiều. Chúng tôi sẽ làm theo sự chỉ dẫn của ông.”. Ngay sau đó, một người thợ máy leo thang xuống rồi vào thẳng buồng máy. Trong khi ấy, từ trên boong tàu buôn, tháp câu từ từ thả xuống 2 thùng dầu cặn cỡ 100 lít, một bành thực phẩm và thức ăn. Nhóm tổ chức vượt biên đã nhanh nhẹn thu nhận về nơi của họ. Tôi không còn ngần ngại, chạy lên buồng lái , nói với người lái tàu:– “Tôi là một sĩ quan TQLC. Theo ông thuyền trưởng cho biết anh lấy hướng phương giác… rồi chạy độ 3 tiếng đồng hồ sẽ gặp một đảo nhỏ của Nam Dương”. Anh lái tàu gật gật đầu có vẻ nhận hiểu. Tôi liếc thấy có chiếc hải bàn trước bánh lái. Một người trẻ tuổi ngồi gần có vẻ chủ tàu còn ôm trong người một khẩu carbine M1 với băng đạn. Không nói gì thêm tôi quay về chỗ của mình. Chỉ trong vòng chưa tới một giờ sau nghe máy tàu nổ và người thợ máy Nam Dương đã leo trở về tàu buôn. Tự dưng tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng phơ phới. Tàu khởi hành ngay sau đó. Tôi yên chí tìm chỗ nằm. Chẳng thấy ai réo gọi gì đến mình. Tôi nghe người ta xì xào trong kiện hàng của tàu Nam Dương cho xuống ngoài nước uống còn có cả thuốc lá Dunhill nữa. Cũng may, tôi còn được ông bạn trẻ mới tự xưng là Thiếu Úy Địa Phương Quân, cho 1 chén cơm với cá khô kho mặn và một bát nước lạnh. Thế là tôi ngủ vùi đi sau bao ngày thấp thỏm chờ đợi.
Tàu chạy suốt đêm và trọn ngày hôm sau, là ngày thứ 5, cũng chẳng thấy đâu là đất liền. Hỏi ra mới biết có lẽ chủ tàu mua nhầm hải bàn “dỏm” của Chợ Lớn. Sau cùng tôi đề nghị cứ chạy về hướng Nam thế nào cũng đến Nam Dương hay Mã Lai, theo bản đồ trong trí nhớ của tôi. Tất cả nhờ kinh nghiệm và học hỏi từ phong trào Hướng Đạo và chỉ huy đánh trận trong Quân Đội. Đến rạng ngày thứ 6, khi chưa thấy đất liền bỗng có một chiếc tàu đánh cá khá lớn của Nam Dương cặp theo. Chủ ghe Nam Dương nói bằng tiếng Anh khó nghe với đại ý anh ta sẵn sàng kéo tàu về đảo Sian Tan của Nam Dương và xin quyên góp một số tiền Việt Nam của người trên tàu. Hóa ra, theo lệnh của tổ chức Liên hiệp Quốc, tàu đánh cá nào kéo được tàu vượt biên Việt Nam vào bờ sẽ được trọng thưởng. Thế là tàu được kéo mãi tới chiều tối mới cập vào cảng của đảo Sian Tan, Nam Dương, trước mũi súng chờ đợi của Quân Đội Nam Dương trên bờ. Dưới ánh đèn pha chiếu sáng, mọi người trên tàu được đi hàng một lên trước họng súng canh gác của Quân Đội Nam Dương. Từ cầu tàu đi bộ về một ngôi trường tiểu học và được chia ra vào hai phòng học với nam và nữ riêng. Tất cả đều phải lột hết quần áo ra để chịu sự khám xét. Khi đến gần một người ngồi sau một chiếc bàn có vẻ sĩ quan, tôi hỏi:– “Anh là TQLC hả”. Anh ta nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hỏi lại:– “Sao anh biết”. Tôi đáp:– “Nếu ở đảo anh không là Hải Quân thì là TQLC”. Hắn cười và gật đầu. Tôi hỏi tiếp:– “Trong TQLC, anh có biết Trung Tá Herman Mujirun không?”. Anh chợt đứng lên nhìn tôi đầy vẻ ngạc nhiên:– “Sao anh biết”. Tôi đáp:– “Tôi học chung cùng khóa Chỉ Huy và Tham Mưu của TQLC Hoa Kỳ với Trung Tá Herman Mujirun năm 1972 và 1973, tại Quantico, Virginia, Hoa Kỳ”. Anh ta tươi cười và đưa tay bắt tay tôi, nói:– “Tôi là Trung Úy TQLC Nam Dương. Trung tá Herman Mujirun bây giờ là Trung Tướng Tư Lệnh TQLC Nam Dương”.– “Nếu được, anh vui lòng tin cho ông ấy biết tôi là… TQLC Việt Nam đang lánh nạn CS Việt Nam. Mười năm sau ngày rời căn cứ TQLC Hoa Kỳ tại Quantico, Virginia trở về Việt Nam tôi đã trở thành kẻ chiến bại với gần trọn 9 năm tù đày CS. Người bạn học cùng khóa từ Nam Dương nay đã lên Trung Tướng làm Tư Lệnh TQLC. Dĩ nhiên, tôi không trông đợi gì từ ông ta. Nhưng dù sao ông cũng còn thân thiết với tôi hơn những người cùng máu mủ Việt Nam theo chủ nghĩa CS. Họ đã thẳng tay trừng trị và tiêu diệt chúng tôi ngay sau ngày lấn chiếm Miền Nam dưới nguồn tài trợ không ngừng của CS Nga và Tàu. Tôi cũng đã làm trọn bổn phận của một chiến binh gìn giữ Miền Nam. Ngày hôm sau, tôi tìm cách mò ra khu chợ nhỏ gần trường học đổi chiếc nhẫn một chỉ vàng may dấu lận trong lưng quân đùi với giá 10 ngàn đồng Nam Dương .Tôi ghé vào trạm bưu điện xin gởi một điện tín sang Mỹ cho gia dình.
Vài ngày sau tôi cùng người trên tàu được chuyển về đảo Kuku. Trong kế hoạch tập trung người vượt biên, một tuần sau tôi được xuống tàu về đảo Ga-Lăng. Suốt thời gian này tôi chẳng gặp ai quen biết. Chiếc tàu tập trung người tỵ nạn của Nam Dương với độ 300 người đủ hạng tuổi, hướng về Ga-Lăng. Trong suốt chuyến hải trình dài một ngày và đêm, với tâm tư trầm xuống, tôi tìm một góc vắng, nằm suy tưởng lại cả một thời gian dài trong chiến trận và những năm tháng tù đày khổ ải. Từ một Thiếu Úy trẻ xông pha vào lửa đạn cho đến ngày bỗng chốc tất cả sụp đổ xuống khi Dương Văn Minh kêu gọi buông súng vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Rồi đến nỗi thất vọng chán chường cùng cực dày vò trên chuyến tàu Sông Hương khi bị VC lùa xuống chuyển ra Miền Bắc Việt Nam vào đầu tháng 6 năm 1976. Quê hương yêu dấu một đời chợt xa xôi nghìn dậm, từ Đà Lạt nơi chôn cắt rún, cho đến Miền Tây bát ngát đồng lúa, Miền Đông chập chùng rừng núi và Miền Trung đầy sỏi đá nghèo nàn. Không biết ngày nào tôi mới nhìn thấy lại quê cha và đất tổ. Sáng ngày hôm sau, bỗng chợt mọt người trên tàu lăng xăng chạy tới lui và xôn xao tiếng gọi réo nhau inh ỏi:– “Tàu vào cảng rồi! Chuẩn bị lên bờ”. Thấy mọi người chen chúc tôi cứ nằm nguyên chờ đợi. Cứ thế mà yên chí chờ đợi vì bây giờ đã vượt qua hiểm nguy rồi. Chợt một người trẻ chạy lại lay mạnh hai chân tôi và nói:– “Anh T. dậy mau! trưởng phái đoàn Mỹ trên cảng gọi loa xuống muốn gặp anh trước hết đó”. Tôi hơi ngạc nhiên. trưởng phái đoàn Mỹ chờ đón? Tuy vậy tôi cũng từ từ ngồi dậy, tay xách túi nhỏ đi lên từ cuối boong tàu. Tự nhiên, mọi người tự động dạt hết ra hai bên, nhường đường cho tôi đi tới. Nhiều tiếng nhỏ to xầm xì hai bên tai:– “Ông Tá TQLC này chắc là Sịa (CIA) rồi. Cũng không phải ông Tướng. Làm gì mà trưởng phái đoàn Mỹ ra tận cầu Tàu đón như vậy?”. “Chắc cũng thứ dữ à nghen”. Đúng! VC gọi TQLC là bọn “Ác ôn côn đồ Lính Thủy Đánh Bộ” mà. Nhưng tôi không phải là Sịa là cái chắc. Không có người nào sinh đẻ ngoài nước Mỹ làm việc cho CIA được. Chỉ có người làm tay sai thôi. Xong việc là hết. Tôi nghĩ chắc có bàn tay của người bạn cùng học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu của TQLCHK tại Quantico là Trung Tướng Herman Mujirun, dù ông ta không liên lạc hay gặp tôi trong thời gian qua. Khi vượt biên tôi đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết. Dù vậy, tôi như người từ cung trăng rơi xuống. Mới ngày nào, lầm lũi đi phá rừng, trên tận Miền Thượng Du Bắc Việt thâm độc, dưới mũi súng của bộ đội VC. Tưởng mình sẽ chết lần hồi trong đói khát và bệnh hoạn. Không còn mong gì ngày về. Chính nhờ bọn Tàu muốn “dạy cho VC một bài học” bằng cuộc tấn kích năm 1979, tù cải tạo mới được lần chuyển về Nam. Nếu không, chỉ vài năm sau sẽ không còn một ai sống sót nổi. Mới ngày nào đây, mỗi sáng còn tay cầm quyển tập giấy 100 trang đi trình diện Công An Phường, chịu mọi lời hoạch họe vì mang tội danh Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Lính Thủy Đánh Bộ. Bây giờ tôi đang thảnh thơi đi lên vùng đất của Tự Do và Nhân Phẩm.
Trưởng Phái Đoàn Mỹ hơi nhỏ con nhưng trông có vẻ đầy tự tin khi ông ta bước tới đưa tay bắt tay tôi.– “Mừng ông đến vùng tự do. Tôi là Đại Úy Hải Quân Alan Barr, Trưởng Phái Đoàn Mỹ của Liên Hiệp Quốc tại Ga-Lăng”.– “Cám ơn Đại Úy. Tôi là TNT TQLCVN số quân 60A/402. 189 nguyên là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4 TQLC Việt Nam”.– “Chúng tôi được giải quyết nhanh hồ sơ của Trung Tá để ông sẽ lên chuyến bay đi Mỹ sớm nhất. Mời ông lên xe”. Đại Úy HQ Alan leo lên ghế tài xế và chỉ tôi ngồi vào ghế trưởng xa, trước bao nhiêu cặp mắt vừa thèm muốn vừa nể phục của mọi người đang chen nhau lên bờ… Có lẽ, mười năm đen tối của đời tôi đã trôi qua. Alan cũng không quên ra hiệu cho một cựu sĩ quan trẻ, làm thông dịch viên, quay về trại:– “Tôi không cần anh nữa. Sáng mai gặp lại.”. Bước vào một căn phòng làm việc nhỏ, trong khu trại Ga-Lăng 1, Alan cúi xuống chiếc tủ lạnh nhỏ lấy ra một lon Coke chìa ra mời tôi. Sau gần 10 năm đói khát, một hớp nước Coca rơi xuống cổ tưởng như uống Nước Tiên, sướng đã cả người. Alan ngồi tươi tỉnh sau bàn làm việc với một hồ sơ ngay trước mặt.– “Anh học Trường Cao đẳng Chỉ Huy và Tham Mưu TQLCHK năm nào? Ai là Chỉ Huy Trưởng? Tướng Tư Lệnh TQLCHK lúc đó là ai? Anh trở về Việt Nam năm nào? Anh tốt nghiệp Khóa mấy của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam?…….”.– “Trước hết tôi xin nhắc lại số quân của tôi cho anh kiểm nghiệm. Sau đây là những câu trả lời……”. Chỉ trong vòng 15 phút sau, đại úy HQ Alan Barr tươi cười đẩy hồ sơ trước mặt anh về phía tôi. “Cho anh xem qua hồ sơ của anh từ Lầu Năm Góc chuyển tới”. Tôi liếc mắt đọc qua và không khỏi sửng sốt khi thấy đầy đủ như bản Tướng Mạo Quân Vụ của tôi trong Phòng Tổng Quản Trị Sư Đoàn ngày xưa, với cả hình ảnh mới nhất chụp tại Trường CHTM của TQLCHK tại Quantico, Virginia, năm 1972-73. Trong ấy, còn có cả hình ảnh vợ con tôi với địa chỉ tại Falls Church, Virginia.
Thế là tôi đã qua cuộc phỏng vấn và được biết tôi sẽ được đưa đi bệnh xá lập thủ tục khám sức khỏe đi Mỹ vào sáng mai. Ngay sau đó, Alan nhờ tôi giúp giải quyết một hồ sơ khó khiến ông ta ngần ngại khi quyết định. Alan nói:– “Có một ông tự xưng là đại tá nhưng lại làm xã trưởng ở Miền Đồng Bằng Sông Cửu Long. Để tôi gọi ông ta lên để anh tìm hiểu xem sao”. Một ông trung niên người Nam da đen màu nắng và rắn chắc bước vào phòng. Tôi đứng dậy chào và bắt tay ông ta, nói thân thiện:– “Ông trưởng phái đoàn Mỹ này muốn nhờ tôi tìm hiểu về anh để giải quyết hồ sơ cho anh. Nghe nói anh xưng là đại tá mà lại làm xã trưởng. Tôi thuộc binh chủng TQLC nên không biết nhiều bên Bộ Binh nhưng cấp bậc đại tá chắc tôi cũng biết. Có gì anh có nói thật cho tôi biết may ra tôi giúp được cho anh”.– “Thú thiệt tôi là xã trưởng Xã… Và cấp bậc đại tá của Hòa Hảo.”. Tôi à lên một tiếng mừng rỡ và hiểu liền. Tôi quay sang giải thích bằng Anh ngữ cho Alan. Chàng ta cười nói:– “Đúng rồi Hòa Hảo. Thay vì làm tỉnh trưởng mà làm xã trưởng thôi.”. Tôi được xếp đặt ở tạm trong một dãy nhà dài với ván gỗ và mái lợp tôn trong khu tỵ nạn Ga-Lăng 1, với khoảng 30 người đủ hạng tuổi. Khi rảnh rỗi, tôi một mình đi lang thang trong khu tạm cư, thăm những ngôi mộ của người vượt biên. Một năm trước đây, người Việt gốc Hoa được VC cho “Đi bán chính thức” đã mang theo cả gia đình và tài sản dấu diếm được. Trên chuyến tàu 600 người ấy chỉ có độ 10 người vốn là Công chức và Quân nhân của Miền Nam. Tôi được gặp lại một số các anh em chiến hữu TQLC đã đến đây gồm hầu hết người trẻ và cấp bậc thấp nhưng họ hết lòng và tận tụy giúp đỡ lẫn nhau tại trại tỵ nạn.
Trước ngày rời đảo, tôi gặp người khóa đàn em Võ Bị cùng phục vụ trong TQLC đã vượt biên lần thứ 14 mới thoát. Trước đó, trong chuyến đi thứ 13 anh đã bị chìm ghe ngoài khơi Vũng Tàu. Vợ con anh lần hồi chết trôi trong tầm tay của anh. Tôi thật hết sức may mắn sau những gian lao khổ ải gần 10 năm. Trại tỵ nạn ở Ga-Lăng như một xã hội thu hẹp của Việt Nam Công Hòa, ngay trên lãnh thổ của Nam Dương. Trong số hàng triệu người bất chấp mạng sống hiểm nguy vượt thoát khỏi gông cùm CS, chắc có ít nhất một phân nửa không đến bên bờ tự do, mà bị hải tặc Thái Lan cướp của chém giết hoặc đói khát, chìm ghe, lạc hướng, đói khát, rồi bị vùi thân xuống biển cả. Mặc cho thế giới tự do đau xót, bọn VC vẫn chửi rủa dù là cùng màu da xác thịt Việt Nam. Tôi lưu lại đảo Ga-Lăng chỉ trong vòng 11 ngày và được chỉ định làm Trưởng Phái Đoàn Tỵ Nạn sang Mỹ vào chuyến bay ngày 12 tháng 6 năm 1984, từ Singapore…….. 

Trần Ngọc Toàn